Mùa Thu Qua Ngõ (Phạm Anh Dũng) Thu Hiền

Mùa Thu Qua Ngõ (nhạc Phạm Anh Dũng, lời Mỹ Ngọc) Thu Hiền hát, Anh Vũ hòa âm 


Trong âm nhạc và thi ca, “vườn xưa” là biểu tượng của một kỷ niệm cũ, có thể là là một tình yêu cũ.
Nhạc phẩm đang giới thiệu Mùa Thu Qua Ngõ, viết năm 2019, có câu “vườn xưa vẫn mát”
Không nhớ câu nguyên thủy Mỹ Ngọc viết ra sao, nhưng tôi đề nghị “vườn xưa vẫn mát”. 
Ý muốn nói: “tình xưa vẫn còn tha thiết” như là “vườn xưa vẫn mát”.

(lời cho nam ca sĩ)


Mùa thu qua ngõ
Lung linh trong nắng
Lá chơi vơi buồn 
Đường xưa im tiếng

Cây cao nghiêng bóng
Chiếc lá khô vàng 
Gió xuyên qua cành
Bầu trời xanh biếc
Ươm kết mây hồng 
Mùa thu qua ngõ
Bước chân vô tình
Em dẫm hồn ta 

Để bao nhung nhớ
Xoáy lóng anh ngẩn ngơ 
Vườn xưa vẫn mát
Ước mơ em trở lại 

Này em, tay nắm tay đôi mình sánh vui nhịp bước
Tình ta bao tháng năm mong chờ sẽ thôi nhạt phai 

Mùa thu qua ngõ 
Qua ngõ mùa thu!

Mùa Thu Qua Ngõ – Thu Hiền hát – Lê Thanh Hương thực hiện video

*

Mùa Thu Qua Ngõ (karaoke) – Lê Thanh Hương thực hiện video

Bài Ca Cuối Cùng (Phạm Anh Dũng) Lê Bảo

Bài Ca Cuối Cùng (nhạc và lời Phạm Anh Dũng) Lê Bảo đàn hát: 
https://www.youtube.com/watch?v=FGCF3wUqfFY

*
Bài Ca Cuối Cùng được viết khoảng cuối năm 2020, khi thảm họa Covid-19 đi qua thế giới.
Và “cơn đại hồng thủy” lúc đó đang đến cực điểm,  vì rất nhiều bạn bè, người quen, hàng xóm… mất vợ hay mất chồng hay người yêu…
Bài hát viết thay cho những người “ở lại” không may mắn, để vĩnh biệt “1/2 kia của mình”. 

*
Vĩnh Biệt (ảnh đã xin phép trước để trích từ KẻJazz.com) 

Bài Ca Cuối Cùng 

(nhạc và lời Phạm Anh Dũng)

…viết cho những người đã “mất 1/2 kia của đời mình”… 

lời cho cho nữ ca sĩ 

Em hát cho anh bài ca cuối cùng
Đưa tiễn anh đi về nơi Vĩnh Hằng
Trống vắng, bơ vơ, lạnh lẽo dâng tràn!
Anh về nơi ấy có nhớ em không? 


Em nhớ năm xưa chuyện hai chúng mình
Hai đứa yêu nhau cùng say đắm tình
Em hát cho anh mỗi khi u sầu
Còn gì đâu nữa những ngày bên nhau!


Tình anh, bao la như biển rộng,
bát ngát như núi cao
Vắng anh, bóng tối như tràn lan
Em không biết làm sao đây anh!!


Em hát cho anh bài ca cuối cùng
Anh hỡi, anh ơi ngủ ngoan nhé mình!
Em sẽ thương anh đến hết đời này
Bài ca, nước mắt, thôi đành chia tay!!!

Hùng Lân (1922-1986)

Hùng Lân (1922-1986)

Nhạc sĩ giáo sư Hùng Lân, tên thật là Hoàng Văn Hường, sinh năm 1922 tại Hà Nội, trong một gia đình có 8 anh chị em. Lúc thiếu thời, ông theo học các trường Gendreau, Lasan Puginier và Saint Sulpice ở Hà Nội.
Ông bắt đầu chính thức học nhạc đều đặn bắt đầu năm 8 tuổi cho đến năm 22 tuổi, với các linh mục người Pháp P. Depautis và J. Bouis.
Từ năm 1944, Hùng Lân là giáo sư âm nhạc cho các trường trung học Chu Văn An và Nguyễn Trãi ở Hà Nội.
Sau Hiệp Định Genève 1954 chia đôi đất nước Việt Nam, nhạc sĩ Hùng Lân di cư vào Nam làm giáo sư âm nhạc của trường Ca Vũ Nhạc Phổ Thông Sài Gòn và cũng là Trưởng Ban Phát Thanh Nha Tổng Giám Đốc Thanh Niên Và Thể Thao Sài Gòn.
Từ năm 1957, ông là giáo sư nổi tiếng của trường Quốc Gia Âm Nhạc Kịch Nghệ Sài Gòn. Cùng một lúc ông vẫn bỏ thì giờ ghi tên học và tốt nghiệp bằng Cử Nhân Văn Chương Pháp tại Đại Học Văn Khoa Sài Gòn năm 1963.
Đến năm 1965, ông được bổ nhiệm chức vụ Chủ Sự Phòng Phát Thanh Học Đường, Trung Tâm Học Liệu, Bộ Quốc Gia Giáo Dục, Sài Gòn.
Sau khi tu nghiệp tại Hoa Kỳ về ngành giáo dục và truyền thông, từ năm 1971 đến năm 1975 ông Hùng Lân trở lại việc dạy nhạc tại Âm Nhạc Viện Đà Lạt.
Sau 1975 và mãi đến khi gần qua đời năm 1986, giáo sư Hùng Lân tiếp tục việc dạy nhạc và nghiên cứu âm nhạc tại tư gia.
Là một nghệ sĩ nhưng cũng là một nhà mô phạm, được mọi người kính mến, giáo sư nhạc sĩ Hùng Lân có tiếng dạy học tận tâm, đứng đắn nhưng thật ra tính tình ông hòa nhã, vui vẻ.
Sự nghiệp về âm nhạc ngoài chuyện dạy nhạc kể trên còn những lãnh vực khác như trình diễn, nghiên cứu, viết sách nhạc và sáng tác nhạc.
Hấp thụ kiến thức thần học sở đắc tại Đại Chủng Viện Xuân Bích tại Hà Nội, nhạc sĩ Hùng Lân là người khởi xướng và phát huy phong trào dùng tiếng Việt trong thánh ca. Năm 1945, Hùng Lân người sáng lập Ca Đoàn Lê Bảo Tịnh tại Hà Nam. Tính đến năm 1974, Ca Đoàn Lê Bảo Tịnh đã xuất bản được 16 tuyển tập Thánh Ca của nhiều tác giả.
Ngoài ba tập nhạc Thánh Ca có tên Ca Vang Lời Chúa, những sách khác do giáo sư Hùng Lân viết có thể được chia làm hai loại chính, sách nghiên cứu âm nhạc và sách giáo khoa âm nhạc.

Công trình nghiên cứu âm nhạc của nhạc sĩ Hùng Lân đã được ông ghi lại ở những sách ông viết:
1970: Tìm Hiểu Dân Nhạc Việt Nam
1971: Nhạc Ngữ Việt Nam
1972: Tìm Hiểu Dân Ca Việt Nam (giải nhất Biên Khảo Nghệ Thuật)
1973: Vui Ca Lên 1 và 2
1975-1986: Nhạc Lý Tân Biên là Di Cảo của Hùng Lân
Sách giáo khoa âm nhạc của giáo sư Hùng Lân đã xuất bản:
1952: Giáo Khoa Âm Nhạc (giải thưởng Bộ Quốc Gia Giáo Dục)
1960: Nhạc Lý Toàn Thư
1964: Hỏi Và Đáp Nhạc Lý, Nhạc Hòa Âm Và Nhạc Đơn Điệu
1974: Thuật Sáng Tác Ca Khúc, Sư Phạm Âm Nhạc Thực Hành
Thêm nữa ông có soạn 100 bài viết cho phong cầm độc tấu hay đệm nhạc.

Riêng về phương diện sáng tác âm nhạc, theo tài liệu của gia đình và các bạn hữu, Hùng Lân có khoảng 900 tác phẩm và rất nhiều bản bị thất truyền.
Về Thánh Ca, ngoài tác phẩm Ca Vang Lời Chúa 1, 2 và 3, nhạc sĩ Hùng Lân còn 80 bài Thánh Vịnh Ứng Tác.

Ông viết khá nhiều nhạc cho nhi đồng, nổi tiếng là những bài Em Yêu Ai, Thằng Tí Sún, Con Cò, Ông Trăng Thu… Tập nhạc Vui Ca Lên là nhạc Hùng Lân biên soạn cho thiếu nhị Nhạc sĩ Hùng Lân cũng đã phụ trách chương trình Phát Thanh Học Đường cho trẻ em, thiếu niên ở đài phát thanh Sài Gòn ngày xưạ
Nhiều sáng tác Tân Nhạc của Hùng Lân đã sống mãi trong lòng người Việt. Vài bản được ghi lại sau đây, một số bài ghi lại theo ký ức của người viết.
Nhạc phẩm Rạng Đông được giải thưởng Sáng Tác của Hội Khuyến Nhạc Hà Nội năm 1943 đã cho thấy ngay từ lúc đầu, khuynh hướng viết nhạc của Hùng Lân là những sáng tác của tuổi trẻ, của sức mạnh:
Anh nghe chăng cung kèn rạng đông
Đang uy linh lừng vang trên không
Đang thiết tha hùng hồn
Khơi chí gan Lạc Hồng
Cháy lên nhuộm trên ánh hồng…


Một bài hát khác cũng được rất nhiều người biết đến và hát là Khỏe Vì Nước:
Khỏe vì nước kiến thiết quốc gia
Đoàn thanh niên ta cố tài ba
Tạo nguồn dân sinh mới
Hùng mạnh trong năm giới
Hợp lực xây hưng thịnh chung nước Nam…


Những trường học nữ sinh thường hát bản Cô Gái Việt, đây cũng là bài nhạc hầu như bao giờ cũng được hát lên trong những ngày hội lễ của phụ nữ, như ngày kỷ niệm Hai Bà Trưng:
“Lời sông núi bừng vang bốn phương trời
Giục chúng ta đường phụng sự quyết tiến
Triệu Trưng xưa đẹp gương sáng muôn đời
Dòng máu thiêng còn đượm nồng trong trái tim…”


Hùng Lân viết rất ít nhạc tình cảm ủy mỵ, có vài bài còn lưu truyền đến nay như bài hát Hận Trương Chi:
“Thuyền ơi, đêm nay biết trôi về đâu?
Dòng sông bao la, nước non xanh xanh một mầu
Hoa bèo dạt xuôi hòng đâu lúc về nguồn
Én bay đã mỏi cánh hồng…”


Một bài nhạc có lẽ không có ai mà không biết đến là Hè Về, một tuyệt tác trong âm nhạc Việt Nam:
“Trời hồng hồng sáng trong trong, ngàn phượng rung nắng ngoài song
Cành mềm mềm, gió ru êm lọc màu mây bích ngọc qua màu duyên
Đàn nhịp nhàng, hát vang vang, nhạc hòa thơ đón hè sang
Hè về trong khóm trúc mềm đầu bờ
Hè về trong tiếng sáo diều dật dờ
Hè về gieo ánh tơ..”


Một bài nhạc khác, Việt Nam Minh Châu Trời Đông, được giải nhất kỳ thi Âm Nhạc Toàn Quốc năm 1944, đã làm dậy lòng ái quốc của giống dân Lạc Hồng:
“Việt Nam! Minh Châu Trời Đông
Việt Nam! Nước thiêng Tiên Rồng
Non sông như gấm hoa uy linh một phương
Xây vinh quang ngất cao bên Thái Bình Dương
Từ ngàn xưa tài danh lừng lẫy khắp nơi
Tiếng anh hùng tạc ghi núi sông muôn đời
Máu ai còn vương cỏ hoa
Giục đem tấm thân sẻ với sơn hà
Chung tâm cương quyết ta ôn lời thề ước
Hy sinh tâm huyết trong báo đền ơn nước.”


Giáo sư nhạc sĩ Hùng Lân là một nhân tài hiếm có và quý báu của nước Việt Nam.

Phạm Anh Dũng
Tháng 10, 2000
Santa Maria, California, U.S.A.

==========
Cô Gái Việt

Lời sông núi bừng vang bốn phương trời
Giục chúng ta đường phụng sự quyết tiến
Triệu Trưng xưa đẹp gương sáng muôn đời
Giòng máu thiêng còn đượm nồng vạn trái tim

Dẫu không cùng tài trai vui tranh đấu
Gánh sơn hà còn trọng hơn xương máu
Dù thành thị hay thôn trang ai ơi
Lòng hẹn lòng bạn gái ta xây đời

Chị em ơi! Quê nước chờ mong
Ta sớm lập công
Tô thắm giang sơn Việt Nam
Ngoài những phút quán xuyến tề gia
Hãy hướng lòng ta đến những ai đang cơ hàn

Kìa cô nhi không chút tình thân
Đây lớp tàn nhân
Năm tháng đau thương thầm trôi
Cùng cương quyết góp sức đồng tâm
Muôn dân vui một đời vàng sáng tươi

=====

Hè Về


Trời hồng hồng sáng trong trong
Ngàn phượng rung nắng ngoài song
Cành mềm mềm gió ru êm
Lọc mầu mây bích ngọc qua mầu duyên
Đàn nhịp nhàng hát vang vang
Nhạc hoà thơ đón hè sang !

Hè về trong khóm trúc mềm đầu hè
Hè về trong tiếng sáo diều dật dờ
Hè về gieo ánh tơ !
Bâng khuâng nghe nắng đùa mây trắng
đàn chim cánh do trời
Phân vân đôi mái chèo lữ thứ
thuyền ai biếng đưa
Xa xa lớp lúa dồn cao sóng vàng
leo dốc trên đồi
Thanh thanh hương sen nồng
ướp gió mát khi chiều rơi

Hè về hè về
Nắng tung nguồn sống khắp nơi
Hè về hè về
Tiếng ca nhịp phách lên khơi
đầu gềnh suối mát
reo vui dào dạt ngập trời gió mát
ven mây phiêu bạt hồn say ý chơi vơi
ngày xanh thắm nét cười
lòng tha thiết yêu đời

Đây suối trăng rừng thơ
Đây gió nhung thuyền mơ
Đây phím ngọc đường tơ
Đây tứ nhạc ngày xưa
Hè về non nước mến yêu
Hè về nắng thông reo

=====

Khỏe Vì Nước

Khỏe vì nước kiến thiết Quốc Gia.
Đoàn thanh niên ta góp tài ba.
Tạo nguồn dân sinh mới hùng mạnh trong năm giới.
Hợp lực xây hưng thịnh chung nước Nam.

Khỏe vì nước chí khí cương kiên.
Giống Lạc Hồng uy hùng vô biên.
Trong khốn nguy can trường sống thác ta coi thường.
Việt Nam thanh niên anh dũng muôn năm.

Thanh niên ơi, hồn thiêng núi sông đợi chờ !
Nơi tay ta toàn dân ngóng trông từng giờ.
Mang máu anh hùng ta đừng làm nhơ máu anh hùng.
Trai đất Việt phải nêu đèn sáng thế giới soi chung.

Dân sinh yếu nhược lôi ta đến đường vong quốc.
Dân sinh dũng cường đưa ta tới đài vinh quốc.
Mau gây lấy phong trào khỏe khắp nơi xa gần.
Cho dân trí quật cường và hưng phấn.
Nghìn đời không mờ ánh Duy Tân.

=====

Mùa Hợp Tấu

Bạn đường ơi, nắng lên rồi, gieo sáng ngời.
Nhạc ngày xanh như chim lành tung đôi cánh.
Một trời hoa sáng bao la chờ đợi ta kíp xông pha,
Bạn cùng tôi câu nước non ta chung hòa.

Ngoài ruộng sâu đã lên mầu bông lúa đầu,
Ngành quỳ dương vui lên đường về định hướng.
Mùa dựng xây đón ta đây hợp ngàn tay thắm men say,
Dựng ngày mai tươi sáng trong khúc nhạc bừng mây.

Ca lên đi, Xuân thế hệ lên phơi phớị
Ca lên đi, ca sức mạnh dân tộc mới,
Cho xanh tươi cây ước vọng bên suối đời,
Cho thắm lại tơ lòng ai thiếu yên vui.

Bạn đường ơi, nắng lên rồi, gieo sáng ngời.
Nào cùng nhau, ta mở đầu Mùa Hợp Tấu.
Dù ngày mai sống đôi nơi, hẹn rồi đây sát đôi vai,
Nhìn ngày trôi, nghe sức thiêng ta chưa hề phai.

=====

Rạng Đông


Anh nghe chăng cung kèn rạng đông
Ðang uy linh lừng vang trên không
Ðang thiết tha hùng hồn
Khơi chí gan Lạc Hồng
Cháy lên nhuộn bao ánh hồng ?
Anh nghe chăng .… ánh hồng ?

Lời 1
Ði! Đi đi thôi, tiến cho đến nơi sáng ngời
Quyết sống những phút tung hoành dọc ngang thật vẻ vang
Manh thân nam nhi hãy đem chí thi với đời
Ðường hoàng lẫm liệt, dù sao cũng cứ hiên ngang

Ðiệp khúc
Thanh niên Việt nam, sao mai chờ ta
Ðường gai bon gót, bạo mà đi ta cứ bạo mà đi
Tương lai chờ ta, vinh quang đợi ta
Dầm sương dãi nắng, không khi nào nhục chí nam nhi

Lời 2
Ði! Anh em ơi, nước non nhắn bao tiếng mời
Nắng mới phấn chí chim đàn cùng ca nhịp bước ta
Ra tay tu mi, nước non chấn động tới trời
Bụi đường ghi tạc vết chân tráng sĩ đi qua

(trở lại Ðiệp khúc)

=====
Việt Nam Minh Châu Trời Đông

Việt Nam minh châu trời đông.
Việt Nam nước thiêng tiên rồng
Non sông như gấm hoa uy linh một phương.
Xây vinh quang sáng trưng bên Thái Bình Dương.
Từ ngàn xưa tài danh lừng lẫy khắp nơi
Tiếng anh hùng tạc ghi núi sông muôn đời
Máu ai còn vương cỏ hoạ
Giục đem tấm thân trải với sơn hà.
Giơ tay cương quyết ta ôn lời thề ước
Hy sinh xương máu mong báo đền ơn nước.
“Dù thân này tan tành chốn sa trường cũng cam.
Thề trọn đời trung thành với sơn hà nước Nam !”.
=====

Em Yêu Ai

  1. Nếu hỏi rằng ; Em yêu ai ?
    Thì em rằng em yêu Ba (nè ).
    Thì em rằng em yếu Má ( nè ).
    Yêu Chị, yêu Anh. yêu hết cả nhà
    ( nhưng ) Nhất là yêu Má cơ…
  2. Nếu hỏi rằng ; Em yêu ai ?
    Thì em rằng em yêu Ông (nè ).
    Thì em rằng em yếu Bà ( nè ).
    Bác, Dì, Cậu, Cô. yêu hết họ hàng
    ( nhưng ) Nhất là yêu Bà cơ…
  3. Nếu hỏi rằng ; Em yêu ai ?
    Thì em rằng yêu Quê hương (nè ).
    Thì em rằng yếu mái trường ( nè ).
    Yêu Thày, yêu Cô. yêu hết cả trường
    ( nhưng ) Nhất là Cô giáo cơ…

CD Giao Cảm

CD GIAO CẢM

12 tình ca thơ phổ nhạc thêm 2 nhạc phẩm tưởng niệm 2 ca sĩ mới qua đời Lệ Thu và Quốc Anh.

Tranh bìa: Trúc Tiên (xin click vào hình trên để xem hình to và rõ hơn)
In ấn: CD Media
Xuất bản & phát hành: Cội Nguồn 2021
Liên lạc: tranh@orange.fr

*****

Trông hoa ngả gió lời thơ trắng
Lả tả rơi dài trên phím xanh

Thơ phổ nhạc thì hầu như dân tộc nào cũng có, nhưng với ngôn ngữ. Ta lại khá đặc biệt vì chứa đựng đến 6 dấu giọng –  nhiều nhất thế giới  – biểu đạt 6 âm thanh trầm bổng ràng buộc lời thơ.
Vì thế, trong thơ trú ẩn âm điệu để gọi là Thi Ca.

Xướng lên lời thơ đã nghe cung bậc tuy có vẻ gì nguyên thủy, sơ khai. Nhưng công việc của nhạc sĩ không là họa lại cho rõ nét thang âm đó –  cũng đôi khi, phần nào  – mà là dệt nên khung trời với chất liệu có được để chuyển tải ý tưởng đó qua cảm xúc của chính mình, là thông điệp đến với không những độc giả mà còn là thính giả nữa. Cảm nhận đó bằng khối óc và quả tim. Ví như thơ là thân xác yêu kiều thì nhạc là chiếc áo vừa vặn, tương xứng khoác lên, tôn vẻ đẹp đã sẵn.

Khi trông “mây bay”, trong vô thức là gió thổi. Thảng thốt “gió thơm” là tiềm thức đóa quỳnh nở đêm. “Gió thổi mây bay”, “thoáng gió hương quỳnh” là sự kết hợp hài hòa, chuyển động nhịp nhàng, đến với người như người đến với ta… Giao Cảm.

*****

Nghe vài bản nhạc:

Nhạc phẩm tưởng niệm ca sĩ Lệ Thu
Dạ Khúc-Bài Nhạc Quỳnh Cuối Cùng (nhạc và lời Phạm Anh Dũng) Lệ Thu hát, Huỳnh Nhật Tân hòa âm, Hoàng Khai Nhan thực hiện video:

*
Khói Phủ Sóng Xa (thơ Hoàng Ngọc Ẩn, nhạc Hạ Đỏ Bích Phượng) Quỳnh Lan hát, Quang Ngọc hòa âm:

*
Màu Nắng Lụa (thơ Uyên Thúy Lâm, nhạc Nhất Chi Vũ) Trúc Tiên hát, Quang Đạt hòa âm:

*
Màu Thu Năm Ngoái (thơ Hồ Dzếnh, nhạc Nguyễn Thanh Cảnh) Xuân Phú hát, Nguyễn Hữu hòa âm:

*
Bồng Bềnh (thơ và nhạc Chương Hà) Đông Nguyên hát, Trần Xuận Studio hòa âm:

*
Mười Thương Ngày Nay (thơ Phương Thúy, nhạc Phạm Trung) Bích Hiền hát, Minh Châu hòa âm:

*
Tôi Chỉ Là Tờ Giấy (nhạc Văn Duy Tùng, lời TT Thích Tánh Huệ) Anh Dũng hát, Văn Duy Tùng hòa âm:

*

Hoài Mơ (thơ Thiên Thanh, nhạc Minh Sơn) Tấn Đạt hát, David Đông hòa âm:

*

Âm Thầm Nhớ (thơ Lê Thị hàn, nhạc Nguyễn Tuấn) Lan Phương hát, Quang Đạt hòa âm:

Trọng Khương, Người Nghệ Sĩ Lãng Tử

TRỌNG KHƯƠNG, NGƯỜI NGHỆ SĨ LÃNG TỬ


     Bánh Xe Lãng Tử là một tuyệt tác của nhạc sĩ Trọng Khương.
     Bài hát hay nhưng có đặc biệt ở một kiểu cười.
     Trong bài hát, có lẽ người nghệ sĩ bị thất tình thành bỏ đi giang hồ. Anh chàng lãng tử giận người mắt… xanh, đã cười “a ha ha!” Tuy cũng chỉ là cười, nhưng thật ra kiểu cười này vừa có vẻ ngạo nghễ, vừa có vẻ cay đắng. Chưa thấy ai và chắc chả bao giờ có người nào đem được cái nét cười này vào âm nhạc Việt Nam như ông Trọng Khương. Chàng nghệ sĩ đã cười ra nước mắt và khi cười chán chê, đâm ra đau đớn, giận đập vỡ cây đàn kỷ niệm ở bên bờ suối trong một đêm vắng. Rồi chàng uống rượu, ngà ngà say và lại lên xe ngựa già để… “lắc lư con tầu đi” dưới ánh trăng vàng, tiếp tục vừa đi vừa hát, sống cuộc đời lang bạt.

BÁNH XE LÃNG TỬ

Bánh xe quay nhanh nhanh
Chiếc thân xe rung rinh
Chìm trong làn cát trắng
Xe nhịp nhàng quay bánh lướt


Hình xe mờ khuất trong mênh mông 
Ta luyến lưu một kiếp giang hồ
Dù rằng cuộc sống vô bờ
Tim nồng tràn máu vô tư

A ha ha!
Suối in hình chiếc xe tàng
Đêm nao đập vỡ cây đàn
Giận đời nào ai mắt xanh

Vó câu bấp bênh
Trên đường gian nan
Chiếc xe lắc lư ru hồn nghệ sĩ tới nơi xa ngàn

Xe lăn êm êm dưới ánh trăng vàng
Môi ai say sưa hé mấy cung đàn
Ca lên cho tan nỗi niềm cay đắng

Vui ca lên đi trong chiếc xe già
Sau khi men say lắng mấy tơ đàn
Hồn ta vụt lướt lên trời xanh lam


    Ghen là một nhạc phẩm nổi tiếng khác của nhạc sĩ Trọng Khương. Bài hát viết nguyên thủy theo điệu Fox, thật vui và dễ … yêu. Đây là bài tình ca do Trọng Khương phổ nhạc vào thơ Nguyễn Bính. Nhạc của Trọng Khương đã diễn tả được đúng ý vui nhộn của thi sĩ Nguyễn Bính, diễn tả một chàng si tình và… ghen.
     Vì “yêu quá mất rồi”, thành ghen. Người ghen không muốn cô em nghĩ đến bất cứ ai cả, không muốn cô tắm biển để người khác ngắm, không muốn thấy cô xức nước hoa làm người khác ngây ngất…
     Ghen tuy không đến nỗi “ghen lồng ghen lộn” nhưng cũng khá “vô lý” khi muốn người yêu bé nhỏ chỉ làm những chuyện cho mình thôi, dù là những chuyện bình thường khó tránh được như nhìn, mỉm cười.
     Và cũng chỉ vì “ghen đấy quá mà thôi”, không những anh ta chỉ ghen với người mà chàng còn ghen với cả cây cỏ, đồ vật. Phải nói là anh chàng ghen một cách “kỳ la” nữa, khi không muốn người đẹp hôn một đóa hoa xinh tươi, hay căn dặn người tình lúc nằm ngủ không được ôm… gối:

GHEN

Hỡi cô nhân tình bé của tôi ơi
Tôi muốn môi cô chỉ mỉm cười
Những lúc có tôi và mắt chỉ
nhìn tôi trong lúc tôi xa xôi

Tôi muốn cô đừng nghĩ tới ai
Đừng hôn dù thấy đóa hoa tươi
Đừng ôm gối chiếc đêm nằm ngủ
Đừng tắm chiều nay bể lắm người

Tôi muốn mùi thơm của nước hoa
mà cô thường xức chẳng bay xa
Chẳng làm ngây ngất người qua lại
dầu chỉ qua rồi khách lại qua

Nghĩa là ghen quá đấy mà thôi
Thế nghĩa là yêu quá mất rồi
Và nghĩa là cô là tất cả
Cô là tất cả của đời tôi

     Ngoài Bánh Xe Lãng Tử và Ghen, một tác phẩm hay khác của nhạc sĩ Trọng Khương, rất đáng nhắc đến, là nhạc phẩm Về Miền Nam. Bài hát này có một thời được hát rất nhiều trên các đài phát thanh. Lúc đó vào thời điểm ngay sau Hiệp Định Genève 1954, đất nước thân yêu Việt Nam bị chia đôi ở dòng sông Bến Hải và kết quả làn sóng hàng triệu người đã di cư từ Bắc vào Nam.
     Trọng Khương dẫn dắt thính giả, từ tang thương chia cắt đất nước và đau đớn của hận ly hương, đến sự hy vọng trong đời sống mới với đầy hy vọng, trong nắng ấm yêu thương của miền Nam Việt Nam.
     Sau đây là lời bản nhạc Về Miền Nam, bản nhạc ngày đó thực sự đã làm xúc động người nghe và cả người hát:

VỀ MIỀN NAM

Đứng vùng lên nào bao thanh niên yêu nước
Hướng về đây miền Nam thân yêu nắng ấm
Theo bước chân người xưa, ta tiến lên đường đi
Bao nắng mưa sương gió nào ngại chi

Sông nào cắt đứt đôi nơi
Sông nào xé nát tim tôi
Sông nào bóp chết thương yêu
Việt Nam ơi!

Sông buồn khóc nước tang thương
Sông gầm thét khúc bi thương
Sông sầu nước mắt ly hương
Việt Nam ơi!

Đi về miền Nam
Miền thân yêu hương lúa tràn ngập đầy đồng
Đi về miền Nam
Miền thân yêu đất rộng cùng chung đời sống

Vang lừng khúc hát hoan ca
Say đời sống ngát hương hoa
Ta cười đón gió phương Nam
Miền Nam  ơi!

Đây miền đất nước xinh tươi
Đây miền nắng ấm reo vui
Đây miền sống phắp muôn phương
Việt Nam ơi!

     Ngoài ra Trọng Khương còn sáng tác những bản tân nhạc nữa như Đường Về Nhà Tôi, Nhớ Rừng Hoang, Men Rượu Lên Hương, Duyên Thắm, Hai Kẻ Giang Hồ, Đôi Guốc Mới, Cai Thuốc Lá…  và những tác phẩm này không mấy nguời biết đến và những tác phẩm này không mấy người biết đến. Và rồi còn những bản nhạc hài hước ông viết cho ban hợp ca AVT trình diễn nhưng thường không có ghi tên tác giả. 
    Nhưng phải nói, chỉ cần ba bản nhạc tuyệt tác như Bánh Xe Lãng Tử, Ghen Về Miền Nam, Trọng Khương cũng đã thành danh mãi mãi…

Phạm Anh Dũng
Santa Maria, California, USA

Bánh Xe Lãng Tử (Trọng Khương) Quốc Anh

Ghen (Trọng Khương) Tuấn Ngọc

Về Miền Nam (Trọng Khương) Ban Tù Ca Xuân Điềm

Lê Thương (1914-1996)

Lê Thương (1914-1996)

Chi tiết về cuộc đời của nhạc sĩ Lê Thương ít thấy được nhắc đến, ít người biết rõ. Có thể ông có bản tính ít phô trương và sống cuộc đời giản dị. Lê Thương tên thật là Ngô Đình Hộ, sinh năm 1914 tại Nam Định. Cũng có một bài viết cho nơi sinh của ông là Hà Nộị . Theo tập sách Hồi Ký Phạm Duy, Lê Thương là một thầy tu nhà dòng hoàn tục.

Lê Thương tuy là nhạc sĩ có hạng, nhưng nghề nghiệp chính lại là nghề dạy học. Ông là giáo sư Sử Địa, có một thời gian giảng dạy cho học sinh tại một số trường trung học tư ở Sài Gòn. Ông cũng có lúc làm công chức ở Trung Tâm Học Liệu, bộ Quốc Gia Giáo Dục.

Nhạc sĩ Lê Thương mất năm 1996 tại Việt Nam.

Lê Thương là một trong những người tiên phong viết tân nhạc Việt Nam.

Tân nhạc Việt Nam bắt đầu khoảng năm 1938. Lúc đó, những bản tân nhạc Việt Nam đầu tiên có lẽ là những bản như Tâm Hồn Anh Tìm Em của Dương Thiệu Tước, Bông Cúc Vàng và Kiếp Hoa thơ Nguyễn Văn Cổn và nhạc Nguyễn Văn Tuyên, Bình Minh thơ Thế Lữ và nhạc Nguyễn Xuân Khoát, Khúc Yêu Đương của Thẩm Oánh, Đám Mây Hàng của Phạm Đăng Hinh, Đường Trường của Trần Quang Ngọc, Bản Đàn Xuân của Lê Thương…

Ngoài Bản Đàn Xuân, thời đó nhạc sĩ Lê Thương còn ở miền Bắc Việt Nam, sau đã có phổ biến thêm những tác phẩm khác như Tiếng Đàn Đêm Khuya, Một Ngày Xanh, Trên Sông Dương Tử, Thu Trên Đảo Kinh Châu…

Nhạc sĩ Lê Thương viết nhiều loại nhạc khác nhaụ. Năm 1941, Lê Thương vào miền Nam định cư . Thời điểm đó, ông có sáng tác những bản nhạc phổ thơ như Lời Kỹ Nữ (thơ Xuân Diệu), Lời Vũ Nữ (thơ Nguyễn Hoàng Tư), Bông Hoa Rừng (thơ Thế Lữ), Tiếng Thùy Dương (tức Ngậm Ngùi thơ Huy Cận) và Tiếng Thu (thơ Lưu Trọng Lư). Hai bài Ngậm Ngùi và Tiếng Thu cũng được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc sau này .

Lê Thương là nhạc sĩ Việt Nam đầu tiên viết nhạc hài hước với những bản Hoà Bình 48, Liên Hiệp Quốc, Làng Báo Sài Gòn… Những bản này do nghệ sĩ Trần Văn Trạch trình diễn nhiều lần vào những của thập niên 1940. Một bản nhạc ông sáng tác được hát nhiều trong thời kháng chiến chống Pháp là Bà Mẹ Việt Nam, chuyện một bà mẹ có bốn đứa con trai trong thời kháng chiến. Nhạc sĩ Lê Thương có tiếng về viết nhạc chuyện ca như Nàng Hà Tiên, Lịch Sử Loài Người, Hoa Thủy Tiên…, và còn thêm một số bài ca nhạc cho vài ban kịch và hãng phim.

Về sau, mỗi cách tuần Lê Thương và nhạc sĩ Lê Cao Phan phụ trách ban nhạc Măng Non cho trẻ em, phát thanh qua làn sóng điện các chuyện cổ tích, khúc dân ca, bài ca nhi đồng…

Ngoài ra Lê Thương còn có đặt lời cho những bản nhạc ngoại quốc ngắn như Nhớ Lào (nhạc Lào), Bông Hoa Đại tức Ô Đuồng Chăm Pá (nhạc Lào), Lòng Trẻ Trai (nhạc Hoa Kỳ), Hoa Anh Đào tức Sakura (cổ nhạc Nhật Bản), Màn Brúc Đánh Giặc (dân ca Pháp)…

Một trong những loại nhạc được ông chú ý đến và sáng tác là nhạc Nhi Đồng và Thiếu Niên gồm những bản như Cô Bán Bánh, Con Mèo Trèo Cây Cau, Thằng Bé Tí Non, Ông Nhang Bà Nhang, Đây-Nhi Đồng Ca, Truyền Kỳ Việt Sử, Thiếu Sinh Ca… Có lẽ hầu như tất cả mọi người đều đã có nghe, biết bài hát Thằng Cuội:

Bóng trăng trắng ngà
Có cây đa to
Có thằng Cuội già
Ôm một mối mơ
Lặng yên ta nói Cuội nghe
“Ở cung trăng mãi làm chỉ”
Bóng trăng trắng ngà
Có cây đa to
Có thằng Cuội già
Ôm một mối mơ.

Một bản nhạc rất phổ thông ở các trường trung tiểu học là bài Học Sinh Hành Khúc:

Học sinh là người Tổ Quốc mong cho mai sau
Học sinh xây đời niên thiếu trên bao công laọ..

Rồi đến bản nhạc ngộ nghĩnh Ông Ninh Ông Nang:

Ông Nỉnh ông Ninh, ông ra đầu đình
Ông gặp ông Nảng ông Nang
Ông Nảng ông Nang, ông ra đầu làng
Ông gặp ông Nỉnh ông Ninh
Nang Ninh đầu đình
Và Ninh Nang đầu làng…

Và đến bài hát Tuổi Thơ thật dễ thương:

Trời xanh xanh mát
Hương thơm thơm ngát
Cùng nhau ta múa điệu ca
Cùng nhau ta hát đời ta

Nhụy hoa thanh khiết
Men hoa ngây ngất
Hát cho tâm hồn được khuây
Cũng như cánh đẹp được bay

Sớm bắt bướm hái hoa kêu la nô đùa
Chiều lại ra dạo chơi vườn hoa
Tôi quyến luyến má ba vui ca bên đèn
Bẩy giờ đêm nằm ngủ mơ thấy tiên.

Về nhạc Lê Thương, đáng bàn đến nhất là ba bản nhạc trong Trường Ca Hòn Vọng Phu. Bằng âm điệu gần gũi âm giai Ngũ Cung của Dân Ca Việt Nam, với ảnh hưởng từ Chinh Phụ Ngâm Khúc của nữ sĩ Đoàn Thị Điểm và Đặng Trần Côn, Hòn Vọng Phu 1 được ông viết tại Bến Tre, khoảng năm 1943.

Mở đầu bài hát, người chồng theo lệnh vua, ra mặt trận với tiếng trống thúc dục:

Lệnh vua hành quân trống kêu dồn
Quan với quân lên đường
Đoàn ngựa xe cuối cùng
Vừa đuổi theo lối sông
Phía cách quan xa trường
Quan với quân lên đường
Hàng cờ theo trống dồn
Ngoài sườn non cuối thôn
Phất phơ ngậm ngùi bay…

Từ đó, xa cách muôn trùng:

…Người đi ngoài vạn lý quan sơn
Người mong chờ trong bóng cô đơn…

Cứ như vậy, người vợ ở lại ngày ngày ôm con, đứng đợi ngóng chồng trở về và cuối cùng cả hai mẹ con vì mòn mỏi chờ mãi đã hóa ra đá:

…Người không rời khỏi kiếp gian nan
Người biến thành tượng đá ôm con.

Sau đó, ông đã sáng tác thêm Hòn Vọng Phu 2 tức Ai Xuôi Vạn Lý khoảng năm 1946. Mẹ con người đàn bà hóa đá vẫn chờ mong. Giai điệu nhạc thật buồn:

Người vọng phu trong lúc gió mưa
Bế con đã hoài công để đứng chờ
Người chồng đi đã bao năm chưa thấy về
Đá mòn nhưng hồn chưa mòn giấc mợ…
…Mà chờ người đi mất từ ngàn xưa
Nàng đứng ôm con xem chàng về hay chưa?
Về hay chưa?
Có ai xuôi vạn lý, nhắn đôi câu giúp nàng
Lấy cây hương thật quý, thắp lên thương tiếc chàng…
Người đi chắc chả bao giờ quay lại:
…Thôi đứng đợi làm chi
Thời gian có hứa mấy khi
Sẽ đem đến trả đúng kỳ
Những người mang mệnh biệt ly

Hòn Vọng Phu 3 tức Người Chinh Phu Về viết xong năm 1947. Mở đầu, vẫn còn hình ảnh não nề của tượng đá chờ trông:

Nơi phía Nam giữa núi mờ
Ai bế con mãi đứng chờ
Như nước non xưa đến giờ…

Và cuối cùng người chinh phu cưỡi ngựa trở về, âm điệu dòng nhạc như tiếng ngựa phi:

Đường chiều mịt mù, cát bay tỏa bước ngựa phi đường trường
Nếp tàn y hùng cường, vẫn còn bay trong gió bóng từ xa, sắp dần qua
Bóng chàng chập chùng, vượt núi non cũ, với hành lương độ đường
Chiếc hùng gươm danh tướng dưới tà uy đếm nhịp đi, vó ngựa phị..

Nhưng cuộc trở về đã quá muộn màng, ai oán:

…Nhớ cố hương lưu luyến tấc lòng mau dồn chân
Vết bước đi trên phiến đá mòn còn in dấu
Từ bóng cây ngôi mộ bên đường
Từ mái tranh bên đình trong làng
Nguồn sử xanh âm thầm vẫn sống
Bao mối thương vang động trong lòng.

Tác phẩm tuyệt diệu, lớn lao và bất diệt Trường Ca Hòn Vọng Phu, đã làm nổi bật tên tuổi của nhạc sĩ Lê Thương trong lịch sử Âm Nhạc Việt Nam…

Phạm Anh Dũng
Tháng 10, Năm 2000
Santa Maria, California, USA

Nhạc sĩ Lê Thương

Trường Ca Hòn Vọng Phu 1, 2, & 3 (Lê Thương) Thế Sơn / Họa Mi / Ngọc Hạ & Thiên Tôn

https://youtu.be/oX5geLJxxTM

Tập Nhạc TÌNH KHÚC HỒI HƯƠNG-Tình Ca PHẠM ANH DŨNG

Tập Nhạc TÌNH KHÚC HỒI HƯƠNG-Tình Ca PHẠM ANH DŨNG

12 nhạc phẩm đầu tay của Phạm Anh Dũng
Le Media xuất bản 1991, tái bản 1993
Phạm Duy đề tựa
Phạm Duy Cường soạn hợp âm Tây Ban Cầm
Mùi Quý Bồng vẽ hình bìa và nhiều phụ bản

Liên lạc: phamanhdung1@yahoo.com

Bìa trư
Bìa sau

NGHE TÁC GIẢ HÁT (DỞ) CẢ 12 BÀI:

Đời Ca Hát (Lê Bảo-Phạm Anh Dũng) Mạnh Tuấn, Quang Đạt

ĐỜI CA HÁT (thơ Lê Bảo, nhạc Phạm Anh Dũng) Mạnh Tuấn hát, Quang Đạt hòa âm, Lê Bảo video:

https://youtu.be/X6Cx6OvpKuk

Tôi thích và có viết một bài về tác phẩm Ánh Đèn Màu (Charlie Chaplin & Nguyễn Xuân Mỹ) 
https://thanhthuy.me/2014/02/12/anh-den-mau-pham-anh-dung/

Nhạc Việt Nam có những bài về đời ca sĩ nổi tiếng như Kiếp Cầm Ca (Huỳnh Anh), Phận Tơ Tằm (Minh Kỳ), Tình Đời (Minh Kỳ & Vũ Chương), Đêm Nay Ai Đưa Em Về (Nhật Ngân), Ai Nói Yêu Em Đêm Nay (Trần Thiện Thanh) và Một Đời Tôi Hát (Thanh Trang). 
Nhưng tôi vẫn nghĩ nếu bài hát với ý như vậy viết theo nhạc Blues thì sẽ diễn tả được tâm sự của người nghệ sĩ hơn. Nhân gặp bài thơ của Lê Bảo với nội dung tương tự, tôi viết thành nhạc Blues.
Lê Bảo là một ca nhạc sĩ trẻ tài hoa ở Nha Trang tôi quen qua “net” và chưa gặp bao giờ. Anh có hát vài bản nhạc của tôi:
https://www.youtube.com/playlist?list=PL0FJzQa1Qa89sUjpmuKIG3e8yeoeM6-ZG

Đời Ca Hát 

(thơ Lê Bảo, nhạc Phạm Anh Dũng) 

Đời tôi có gì vui ?
Chỉ là một kiếp người 
Mang lời ca tiếng hát 
Dưới ánh đèn màu soi 

Đời tôi có gì vui ?
Khóc cười, cười với đời 
Lối mòn trăng chiếc bóng 
Ru tình buồn đơn côi 

Xin dâng cho cuộc đời 
Những tình ca một thời 
Kiếp cầm ca người hỡi 
Mong đời được yên vui. 

Bao đêm tôi đưa người 
Những đóa hoa tuyệt vời 
Mà đời tôi không vui 
Đời tôi có gì vui
!


Lê Bảo

Dòng Sông Đứng Lại (Mộng Thủy) / Giao Cảm Tuyệt Vời (Nguyên Đỗ)

DÒNG SÔNG ĐỨNG LẠI

(thơ Trần Mộng Tú, nhạc Phạm Anh Dũng)
Mộng Thủy hát, Quốc Vũ hòa âm và piano
Hoàng Khai Nhan video:

GIAO CẢM TUYỆT VỜI

Nguyên Đỗ

Chưa bao giờ sự giao cảm giữa nhà thơ, nhạc sĩ, ca sĩ và người nghe, người đọc được nhanh chóng thần tốc như thời đại của kỹ thuật mạng lưới thông tin. Một bài thơ có thể được sáng tác theo rung cảm của thi sĩ vừa được đăng trên diễn đàn các mạng lưới, thì lập tức nếu được sư. giao cảm của một nhạc sĩ nào đó, bài thơ sẽ được nâng thêm một cấp nữa khi được phổ thành một nhạc khúc hay, rồi lại được ca sĩ với một giọng ca truyền cảm chuyển trao cho bạn hữu, giới yêu nhạc ở khắp nơi. Với ba phương tiện truyền thông khác nhau do ba nghệ sĩ chân chính là thi sĩ, nhạc sĩ, ca sĩ truyền đạt thì âm hưởng của một bài thơ, một bài nhạc, một bài hát sẽ ngân vang và gây xúc động thật nhiều trong lòng độc giả và thính giả qua các mạng lưới. Chúng ta có thể nói một cách hình tượng là bài thơ, bản nhạc, bài hát là những ngọn sóng liên tục từ đại dương bao la dồn dập đập vào bờ tâm hồn của chúng ta.

Sự giao cảm giữa thơ và nhạc, giữa nhạc và giọng hát, giữa bài hát và thính giả đã có từ lâu, nhưng tốc độ nhanh chóng thì chưa bao giờ được thể hiện như lúc này. Sự giao cảm đó là yếu tố quyết định cho sự âm vang của một tác phẩm. Tình thân hữu giữa bạn bè, cũng như tài năng của nhạc sĩ, ca sĩ đóng góp không nhỏ trong việc tạo nên tiếng tăm của một nhà thơ bởi sự giao cảm nói theo kiểu nhà Nho, “Đồng thanh tương ứng đồng khí tương cầu” Tâm hồn của thi, văn, nhạc, ca sĩ có thể rung một điệu và âm hưởng đó có tầm quát bao la.

Không ít người không biết tới câu chuyện Hải Khùng phát thơ có tầm năng thành giai thoại văn chương lý thú cho nhiều thế hệ mai sau. Hải Khùng là biệt danh của Nguyễn Hoàng Hải (1952-1992) trước khi ông trở thành nhà thơ nổi tiếng với bút danh Nguyễn Tất Nhiên. Theo nhà thơ Thái Thụy Vy (người cùng quê với ông ở Biên Hoà) “hồi chưa nổi tiếng, trời nắng chang chang mà anh ưa mặc cái manteau mua ở khu Dân sinh, mồ hôi nhễ nhại, ưa đạp xe đạp đi cua cô em Bắc Kỳ nho nhỏ tên Duyên; anh nhỏ hơn tôi đúng một con giáp, tuổi Thìn; anh thường làm thơ in ronéo đi phát không cho nữ sinh, họ đều quăng vào thùng rác, đến lúc Vĩnh Phúc và Nguyễn Xuân Hoàng dạy trường Ngô Quyền gửi đăng ở tạp chí Sáng Tạo của Mai Thảo, được Phạm Duy và Nguyễn Đức Quang phổ các bản “Thà như giọt mưa vỡ trên tượng đá”, “Trúc đào”, “Vì tôi là linh mục”,” Em hiền như ma soeur”, “Cô em Bắc kỳ nho nhỏ”, “Hai năm tình lận đận” thì nữ sinh ùn ùn kiếm mua thơ anh.” (1) Giai thoại này nói lên sự giao cảm giữa bạn bè, giữa những bài thơ và các nhạc sĩ để rồi ảnh hưởng mạnh mẽ tới giới người đọc, người nghe đã không chỉ còn là người đọc, người nghe bình thường mà đã trở thành giới thưởng thức với thính quan âm nhạc đưa thơ trở về với ý nghĩa thuần tuý thi ca, không phải là thơ chỉ để đọc mà thôi, mà thơ còn để nghe với tính cách diễn ngâm, với tính cách âm nhạc, với tính cách thưởng thức.

Có thể nói sẽ không có nhiều người biết tới nhà thơ Vũ Hữu Định (1942-1981), mặc dù ông làm thơ rất nhiều trong nhóm sinh hoạt Văn Học Nghệ Thuật Quảng Đà, nếu bài thơ “Còn Một Chút Gì Để Nhớ” không được nhạc sĩ Phạm Duy phô thành một bài nhạc hay và không có tiếng hát tuyệt vời của ca sĩ Thái Thanh truyền đạt. Nhà thơ Luân Hoán, cũng cùng trong nhóm VHNT Quảng Đà, viết rằng: “Nhưng đợi đến khi Phạm Duy phổ nhạc bài thơ “Còn Một Chút Gì Để Nhớ” và qua tiếng hát vượt thời gian của Thái Thanh, mới thực sư. chắp đôi cánh tuyệt vời cho ý thơ anh bay bổng, và chính tôi cũng yêu thích bài thơ của anh từ đó. Anh đã có công đưa thành phố núi cao đầy sương và bụi mù đó vào trong trái tim của mọi người.” Bao nhiêu người đã hay đang sống và nhiều thế hệ mai sau sinh trưởng tại Pleiku cũng như những người Việt Nam ở các nơi khác sẽ thiếu thốn rất nhiều và không thấy hết nét thơ mộng của thị xã này nếu không biết tới bài thơ phổ nhạc của Vũ Hữu Định / Phạm Duy. Sự rung cảm của nhà thơ Vũ Hữu Định đã cho tôi thấy nhiều khía cạnh đặc biệt của Pleiku, dù một hai chi tiết là sai sư. thật, nhưng tất cả mọi sự trên đời là tương đối, và ngôn ngữ của nhà thơ là ngôn ngữ chọn lọc đã được đưa qua cảm xúc riêng tư của thi sĩ. Người ta vẫn có thể chấp nhận cảm quan của nhà thơ khi ông viết “Ở đây buổi chiều quanh năm mùa đông” ngay cả trong những buổi chiều hè oi bức với tiếng ve kêu trên cành phượng đỏ khu trường Minh Đức, Bồ Đề, hay Nữ Trung Học Pleime… Lý do đơn giản là lời thơ, điệu nhạc thấm tận vào hồn của người nghe diễn tả tâm trạng của một người khách lạ trên một phố núi heo hút miền cao… Sự giao cảm rung động đó là một kết hợp hài hoà giữa thơ, nhạc, ca của nhà thơ, của nhạc sĩ và tiếng hát của ca sĩ tạo nên những kết quả không ngờ với âm hưởng vượt thời gian và không gian.

Còn Một Chút Gì Ðể Nhớ

phố núi cao phố núi đầy sương
phố núi cây xanh trời thấp thật buồn
anh khách lạ đi lên đi xuống
may mà có em đời còn dễ thương

phố núi cao phố núi trời gần
phố xá không xa nên phố tình thân
đi dăm phút đã về chốn cũ
một buổi chiều nào lòng bỗng bâng khuâng

em Pleiku má đỏ môi hồng
ở đây buổi chiều quanh năm mùa đông
nên mắt em ướt và tóc em ướt
da em mềm như mây chiều trong

xin cảm ơn thành phố có em
xin cảm ơn một mái tóc mềm
mai xa lắc bên đồi biên giới
còn một chút gì để nhớ để quên

Vũ Hữu Ðịnh
(Tập Thơ “Còn Một Chút Gì Ðể Nhớ”. VN 1996)

Sự giao cảm giữa nhạc sĩ và ca sĩ, bản nhạc và giọng hát cũng không kém phần quan trọng như trường hợp nhạc của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn và ca sĩ Khánh Ly. Ca sĩ Khánh Ly đã hơn một lần nói rằng nhạc Trịnh Công Sơn đã tạo giọng ca Khánh Ly và đưa cô vào hàng ca sĩ tên tuổi trong và ngoài nước. Thật vậy trong những năm đầu soạn nhạc, ít người biết đến nhạc sĩ Trịnh Công Sơn cho tới khi nhạc Trịnh Công Sơn được Khánh Ly đem vào lòng công chúng với tiếng hát tuyệt vời của cô Khánh Ly chuyên hát nhạc Trịnh, và mọi người đã gắn liền gần như cặp bài trùng như hình với bóng Trịnh Công Sơn / Khánh Ly, nhắc tới người này không thể không nhắc tới người kia, dù sau này vì không gian cách biệt ở quê nhà có ca sĩ Hồng Nhung hát rất thành công nhạc Trịnh Công Sơn, nhưng nàng cũng được mệnh danh là Khánh Ly thứ hai (2). Sự giao cảm đó là một giao cảm đặc biệt có một không hai trong nền nghệ thuật ca nhạc không khác chi sự giao cảm giữa Đặng Trần Côn và Đoàn Thị Điểm trong việc chuyển âm từ Hán sang Nôm của tác phẩm tuyệt vời Chinh Phụ Ngâm Khúc. Giọng ca vàng của Khánh Ly đã truyền đạt với trình độ cao nhạc của Trịnh Công Sơn như tài thơ và cách dùng chữ Nôm của nữ sĩ Đoàn Thị Điểm đã chuyển đạt ý thơ và ngôn từ của Đặng Trần Côn. Sự hài hoà và xúc cảm riêng tư của người chuyển đạt qua lời ca, cách viết của ca sĩ Khánh Ly, của nữ sĩ Đoàn Thị Điểm đã đưa nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, nhà thơ Đặng Trần Con vào lòng dân tộc.

Mỗi một phương tiện truyền thông thơ hay nhạc đều có những điểm chuyên môn mà nghệ nhân trong mỗi ngành phát triển tới mức cao độ để diễn đạt tư tưởng của mình qua lời thơ, nốt nhạc, cách diễn tả qua giọng hát, cử chỉ. Hà Huyền Chi, một nhà thơ lão thành đã có trên hai trăm bài được trên 35 nhạc sĩ phổ nhạc trong đó có Vũ Thành An, Phạm Duy, Trần Quang Hải, Song Ngọc, Từ Công Phụng, Trần Thiện Thanh, Trầm Tư? Thiêng, Hoàng Thi Thơ, Nguyễn Tiến Dũng, Hoàng Linh Duy, Trần Quan Long, Mai Anh Việt, Trần Duy Viêt, Triệu Vinh, Phạm Anh Dũng… đã nhắc tới điểm đặc biệt của thi ca:

Thi trung hữu họa và Thi trung hữu nhạc là điều hiển nhiên không ai có thể phủ nhận được. Cổ nhân đã nói thơ, ngâm thơ, hoặc hát thơ từ trước khi loài người phát minh ra văn tự nhạc cụ và nhạc thuật. (3)

Một bài thơ tuyệt tác ngoài ý thơ tuyệt vời, ngoài lời thơ trau chuốt, còn phải gợi hình, gợi ảnh và có nhạc tính tạo cho người đọc người nghe thấy và thưởng thức những bức tranh hoạ, những lời nhạc và tâm tình của nhà thơ trong bài thơ của mình. Tưởng cũng nên nhắc lại là không hẳn những tâm tình đó là tâm tình thực sư. cá nhân của nhà thơ mà là tâm tình của nhà thơ khi đặt mình vào trạng huống của người trong bài thơ như trường hợp điển hình là Đặng Trần Côn là bậc nho gia đã đặt mình vào vai trò của một người vợ có chồng đi chinh chiến. Chúng ta thấy rất nhiều nhà thơ, nhạc sĩ hiện tại khi viết về tình yêu không hẳn là ho. có nhiều cuộc tình mà thực ra họ chỉ đặt mình vào nhiều hoàn cảnh khác nhau để sáng tác một bài thơ, để phát huy khả năng sáng tạo mà thôi. Trong cuộc phỏng vấn cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn người ta hỏi rằng:

“Bao nhiêu năm rồi còn mãi ra đi. Đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt”. Nhạc sĩ nói với mình hay nói cho ai? Nhạc sĩ đa đi như vậy bao giờ chưa? Và đã nếm được vị mệt ấy chưa?

Nhạc sĩ trầm ngâm đáp: “Cõi đi về ấy dành chung cho tất cả mọi người”

Câu trả lời của Trịnh Công Sơn cũng là câu trả lời chung cho giới sáng tác viết với thân phận làm người về mọi người cho mọi người không hẳn chi? về mình cho riêng mình. Hẳn nhiên cũng có những nhà thơ độc đáo, chỉ viết những gì đã xảy đến trong cuộc đời của họ, mỗi bài thơ là một trang nhật ký với những tình cảm xót xa, hạnh phúc với những biến cố xảy ra trong đời. (3)

Người đọc, người nghe, hay các nhạc sĩ thường sẽ nhận ra ngay những bài thơ tạo cho họ những cảm quan quen thuộc hay mới lạ, đánh động tâm hồn của ho.. Với một thính quan âm nhạc sẵn có của giới yêu nhạc, nhạc sĩ sẽ đóng góp phần mình vào việc hoàn diện hoá bài thơ mình ưa thích, dù tư. nó bài thơ đã hoàn diện trong lĩnh vực thơ, bằng cách phát huy nhạc tính của bài thơ. Nhạc sĩ cũng đóng vai trò sáng tác không kém nhà thơ mà còn có phần hơn nữa, vì thơ thường chỉ có một số lượng hâm mộ ít còn nhạc thì hầu như giới nào cũng có thể thưởng thức được. Điều này chúng ta có thể thấy nhiều trong lãnh vực thơ ca nhạc hiện tại. Sách thơ bán chậm, nhưng các băng nhạc CD bán chạy, và bao giờ cũng hết sớm. Các nhà thơ hiện nay thường xuất bản thơ và CD với tính cách văn nghệ không phải như các thế hệ trước được trọng vọng vì lúc đó người viết thì ít, người đọc thì nhiều, vì người viết nhiều, vì số lượng người đọc hiện nay ở nước ngoài hạn chế vì có nhiều thứ giải trí khác, vì ấn phí cao, và việc thực hiện CD thường rẻ hơn….

“Có thực mới vực được đạo!”

Câu nói từ nghìn đời của ông bà còn đó, một nhà thơ, một nhà văn, một họa sĩ, nhạc sĩ… cần phải được sư. ủng hộ và cổ động của mọi người mới có thể phát huy tài năng của ho. tới tuyệt đỉnh. Việc ra CD cùng với thơ là một bước đáng thực hiện vì CD bổ túc và cường tăng tác động của âm hưởng thi ca vào giới khán-thính độc giả và vì đó là phương tiện các nhà văn nhà thơ để tiếp tục vai trò phục vụ văn học nghệ thuật của mình.

Thưởng thức CD là thưởng thức một công trình đóng góp văn học nghệ thuật tập thể với sư. tham gia của nhà thơ, nhạc sĩ, ca sĩ cũng như các ban nhạc công cũng như một bài hát trên sân khấu là tác phẩm của nhạc sĩ, ca sĩ, các diễn viên trình bày và ban nhạc, vũ trường… Sự cấu tạo hài hoà của sân khấu, vũ trường, CD là một công trình tập thể góp phần tạo tên tuổi của một nhà thơ, một nhạc sĩ, một ca sĩ, một ban nhạc…

Khi trình bày quan điểm này một số thân hữu hỏi tôi, “Bạn có thấy tất cả những bài thơ hay đều được phổ nhạc không?” Tôi đã trả lời bâng quơ, “Nghệ thuật là tương đối, có bài thơ thật hay vẫn không được phổ nhạc, có những bài thơ xoàng xoàng vẫn được phổ nhạc như thường. Tuỳ sự giao cảm của nhạc sĩ và nhà thơ hay bài thơ. Nếu bạn có một người bạn là một nhà thơ giỏi nhạc, thì nhạc sĩ đó sẽ theo dõi thơ bạn nhiều hơn và có cơ hội phổ nhạc bạn hơn. Hay bạn có tên tuổi như những nhà thơ lớn như Hà Huyền Chi, Du Tử Lê, hay gần đây có nhà thơ Trần Mộng Tú thì mọi chuyện dễ dàng hơn vì bạn đã có ngay một giới thưởng thức có sẵn. Phải nhớ rằng khi nhạc sĩ phổ nhạc là nhạc sĩ đã góp phần tăng giá trị của bài thơ, giúp bài thơ có một tầm vóc mới, nhạc tính mới qua thính quan nhạc của người soạn bài hát, đó là chưa nói tới việc hoà âm sau này. Để khách quan đánh giá một nhà thơ, chúng ta cần phải đọc bài thơ, đọc tác phẩm của ho. chứ không thể dựa vào đóng góp bên ngoài mặc dù những đóng góp đó giữ vai trò quan trọng trong việc phổ biến lời thơ. Bạn cũng không nên buồn nếu bạn chưa có bài nào được phổ nhạc nếu bạn đã hài lòng với bài thơ của bạn vì lý do này hay lý do khác! Biết bao nhiêu tác phẩm hay xưa nhiều người ngưỡng mộ vẫn không được phổ nhạc đó mà! Vì mỗi nghệ thuật có nét điểm riêng, thơ văn hay ca nhạc cũng thế! Sư. giao cảm là một yếu tố cần thiết nhưng không phải là một yếu tố không thể không có hay không có không được (a sine qua non factor) cho giá trị của một bài thơ hay một tác phẩm. Tôi nghĩ tác phẩm Cung Oán Ngâm Khúc của Nguyễn Gia Thiều là một trong những tuyệt tác trước kia mà mấy ai biết tới! Có lẽ nhiều người biết bài Tình Già của Phan Khôi hơn!”

Đọc, thưởng thức một bài thơ là một sư. tìm tòi khám phá của mỗi cá nhân, nghe một bài thơ phổ nhạc là một tái khám phá qua sư. khám phá và thính quan âm nhạc của nhạc sĩ. Tôi mong thấy có một ngày giới văn nghệ sĩ có những lớp học cộng đồng để người già người trẻ, người đi trước, người đi sau chia se? và học hỏi những kinh nghiệm sáng tác của mình để duy trì nền văn hoá có một không hai của dân tộc Việt Nam đang ở một chặng đường tiếp lưu với giòng văn học khắp nơi trên thế giới. Tôi tin rằng giòng văn học Việt Nam nói chung và nền văn học Việt Nam hải ngoại sẽ một ngày một mạnh với sự tiếp thu các nền văn hoá nhân loại và sư. giao cảm của mọi giới yêu nghê. thuật, trước tiên là giới yêu thơ, giới nhạc sĩ, các diễn đàn mạng lưới thông tin là giới, là nơi tiên phong trong việc tìm tòi, khám phá và phô? biến văn thơ cho đại đa số khán – thính – độc giả.

Lâu nay, tôi vẫn đọc và học hỏi thi phong của nhà thơ Trần Mộng Tú cũng như nhiều nhà thơ khác, tình cờ tôi nghe được bản Dòng Sông Đứng Lại của nhạc sĩ tài ba kiêm bác sĩ thực thụ Phạm Anh Dũng, lòng tôi chùng xuống trước một khám phá mới: Bài thơ trước đây đã thật hay, bây giờ như thêm đôi cánh chim bằng và gió lộng đưa bài thơ lên mây, bài thơ trở thành ba chiều, bốn chiều, chứ không chỉ còn là một bài thơ đơn thuần nữa. Tôi nhủ với lòng mình là đây chính là trường hợp cụ thể của giao cảm tuyệt vời của nhà thơ, nhạc sĩ, ca sĩ và người đọc.

Cả Một Dòng Sông Đứng Lại Chờ

Tôi xa người nắng buồn trên vai
Môi tôi còn mùi thuốc thơm mời
Người xa tôi một dòng sông trắng
Dẫy núi bên kia có ngậm ngùi

Tôi xa người hàng cây bâng khuâng
Nước dâng lên chiều xuống muôn trùng
Người xa tôi có còn đứng ngóng
Một cánh chim bay ở cuối rừng

Tôi xa người như xa cơn mưa
Mái tóc tôi còn ướt hôm nay
Nhớ tôi người còn châm điếu thuốc?
Nhớ tôi người có đi trong mưa?

Người xa tôi gió cũng lặng thinh
Cho tôi rung nỗi nhớ quanh mình
Người đi như suối qua rừng vắng
Cả một dòng sông đứng lại chờ

Trần Mộng Tú (5)

Trong những năm viết văn làm thơ văn nghệ của tôi, tôi có không ít cảm xúc, ý thơ đến từ thân hữu, giới yêu thơ, các nhạc sĩ, ca sĩ, và bạn đọc bốn phương qua các điện thư, bài nhạc, bài thơ cũng như nhận xét, phê bình, chỉ bảo… để liên tục sáng tác đóng góp phần vào việc duy trì và phát triển văn học Việt Nam hải ngoại. Tôi xin chân thành cám ơn tất cả các diễn đàn, mọi người, các bạn đọc, các nhà thơ, các nhạc sĩ, ca sĩ đã giúp tôi niềm tin, đã giúp tôi đôi cánh để vững tiến trong công việc tìm tòi, khám phá và sáng tác giải trí xưa nay.

Nguyên Đỗ

————————————————————————–

(1) Tài liệu lấy từ mạng Đặc Trưng và Trang Nhà của nhà thơ Luân Hoán
(http://www.dactrung.com)
(http://www.digital-info.com/luanhoan/00lh.htm)

(2) và (4) Tài liệu tham khảo từ trang nhà của ca sĩ Khánh Ly
(http://www.KhanhLy.com)

(3) Thi Trung Hữu Nhạc Hay Tương Quan Giữa Thơ và Nhạc Hà Huyền Chi
Tài liệu lấy từ Gia Trang của nhà thơ Hà Huyền Chi
(http://www.geocities.com/hahuyenchi).KhanhLy.com)

(5) Xin tham khảo Nhạc Phạm Anh Dũng mạng lưới Trinh Nữ
(http://www.trinhnu.net)

Ba Bài Hát Có Tên LỆ THU / Phạm Anh Dũng

Một lần, chị có nói: “Nắng Xuân Xưa, chị hát, nghe thấy cũng… được thôi”.
Nắng Xuân Xưa (Phạm Anh Dũng) Lệ Thu hát, Duy Cường hòa âm, Hoàng Khai Nhan video:
https://www.youtube.com/watch?v=8qKHckN_Mwg&feature=youtu.be

Một hôm, chị gọi phone: “Dũng rảnh đến đây, chị cho em quà” Khi đến hiệu ăn của chị, cảm động, khi chị cho cái CD có bài Xóm Cũ, chị hát tặng. Chị nói: “Xóm Cũ, hát thấy buồn thật, vì nhớ… Việt Nam quá!”
Xóm Cũ (thơ Phạm Thế Trường, nhạc Phạm Anh Dũng), Lệ Thu hát, Hoàng Khai Nhan video:
https://www.youtube.com/watch?v=E336MGgK0kk&feature=youtu.be

Rồi tình cờ, chị nhắc đến bài Nước Mắt Mùa Thu: “Ông Phạm Duy có nói sẽ viết một bài nữa có chữ Lệ Thu nhưng chắc ông ấy… quên mất rồi” Khi tôi chào chị đi về, ánh mắt chị có vẻ nghi ngờ, khi tôi nói: “Em cũng thích cái tên Lệ Thu. Em sẽ viết ít ra một bài có tên Lệ Thu”.

Về nhà, tôi viết Tình Là Hư Không, với câu:
“…Rồi một ngày lệ thu hoen màu nắng…”.
Bài sau thì dễ dàng, chỉ cần đặt tên là Giọt Lệ Thu và tên chị có ngay ở tên bản nhạc.
Mãi sau này, thêm Dạ Khúc-Bài Nhạc Quỳnh Cuối Cùng có chữ đầu tiên của 2 câu liên tiếp là Lệ và Thu::
“...Lệ ai rơi bến cũ 
Thu vẫn đến trong mưa…”

Nhận được, chị đàn thử và phê bình bài Dạ Khúc-Bài Nhạc Quỳnh Cuối Cùng “nghe như nhạc classics”.
Chị hát xong, gọi phone nói: “Bài này chắc là bài hay nhất của em đấy. Nhưng sao khi chị hát chị lại có cảm giác hát bài Hương Xưa của Cung Tiến ngày xưa”.
Dạ Khúc-Bài Nhạc Quỳnh Cuối Cùng (Phạm Anh Dũng) Lệ Thu hát, Huỳnh Nhật Tân hòa âm, Hoàng Khai Nhan video:
https://www.youtube.com/watch?v=SjCM1VdMRy4&feature=youtu.be 

(tháng Giêng 2021, trích trong bài viết Chị Lệ Thu / Phạm Anh Dũng đang viết dở dang)