KIM DUNG GIẢ / Phạm Anh Dũng

KIM DUNG GIẢ 


Hồng Hoa Kiếm là một bộ truyện kiếm hiệp. Tên tác giả ở ngoài bìa sách là Kim Dung và do Ðiền Trung Tử dịch thuật.

Những trang đầu tiên của bộ chuyện kể chuyện cô nàng Lý Mộng Ngọc, tình cờ nhìn thấy thầy giáo Lục Phỉ Thanh dùng phương pháp Phù Dung Kim Châm phóng kim giết ruồi, mà sau đó được Lục Phỉ Thanh nhận làm học trò dạy công phu võ nghệ.

Ngoài chuyện đuợc hiệp sĩ Lục Phỉ Thanh phóng kim giết, để cho những “người thường” lấy quạt hay giấy báo gấp lại đập chết và để cho những nhà khoa học nghiên cứu, có lẽ không thấy ai dùng ruồi nhặng vào việc gì khác hữu ích cả. Ai cũng nghĩ ruồi nhặng là những côn trùng rất bẩn, gây bệnh và chẳng ai muốn “dây vào” ruồi nhặng làm gì cho “mang họa.”

Nhưng ruồi nhặng đẻ ra dòi (fly larva hay maggots) và những con dòi đã được dùng bỏ vào các vết thương nhiễm trùng, để làm lành vết thương thay cho thuốc trụ sinh (antibiotic). Có những thành công hiệu quả không ngờ của phương pháp trị bệnh bằng dòi (maggot therapy).

Thật ra chuyện chữa vết thương bằng Dòi không phải là vấn đề chỉ mới được thực hiện gần đây. Hàng bao nhiêu thế kỷ ngày xưa, trước khi khám phá ra trụ sinh, các thầy thuốc đã dùng dòi đặt vào vết thương để làm mất đi những mô, tế bào đã chết thối hay để cho vết thương chóng lành. Phương pháp này sau đó bị bãi bỏ hoàn toàn, vì sự phát minh ra thuốc trụ sinh, hay còn gọi là thuốc kháng sinh, để chống lại những bệnh nhiễm vi trùng.

Tuy vậy, sau một thời gian xử dụng, trụ sinh có thể mất hiệu quả vì sự kháng thuốc của vi trùng. Càng về sau này, vi trùng càng kháng thuốc trụ sinh nhiều hơn. Trụ sinh không còn hiệu nghiệm nữa vì vi trùng đã “quen thuốc.” Lý do chính là thuốc được dùng nhiều quá và nhiều khi quá cẩu thả.

Ngày nay, tại một số quốc gia tân tiến kể cả Anh Quốc và Hoa Kỳ, có những y sĩ lại quay trở lại cách chữa những vết thương nhiễm trùng bằng phương pháp ban sơ: họ lại dùng dòi!

Ở Hoa Kỳ, ở Ðại Học Ðường California tại Irvine (UCI), có một trung tâm chuyên môn dùng dòi để chữa vết thương nhiễm chùng đã thối rã. Họ cũng sản xuất một số dòi để bán nhưng chỉ gửi đến vài nhà thương ở Hoa Kỳ để dùng chữa bệnh.

Việc dùng dòi để chữa trị ở Hoa Kỳ tương đối không đuợc phổ biến nhiều như bên Anh Quốc và một số quốc gia Âu Châu khác.

Trong một lá thư được đăng ở British Medical Journal, số ngày 20 tháng Ba, năm 1999, Bác sĩ John Church, thuộc International Biotherapy Society ở Bourne End cùng những y sĩ khác ở bệnh viện Princess of Wales ở Bridgend, Anh Quốc, cho biết đã đặt những con dòi vô trùng (sterile larva) vào vết thương và đã làm sạch, làm lành vết thương bị nhiễm trùng.

Theo những chuyên viên y khoa này, chữa vết thương bằng dòi cũng gần như là làm một cuộc giải phẫu sinh học (biosurgery). Và cũng theo họ, phương pháp dùng dòi đã thấy có hiệu nghiệm trong nhiều loại vết thương nhiễm trùng khác nhau, có những vi trùng kháng đủ mọi thứ thuốc trụ sinh. Ðặc biệt, họ cho biết có những kết quả rất khả quan trong việc chữa những vết loét nhiễm trùng ở bàn chân của những bệnh nhân bị đái đường (ulceration of diabetic foot). Thường những vết thương này rất khó chữa và có khi không chữa được, phải cưa chân.

Cơ chế của phương pháp dùng dòi chữa vết thương nhiễm trùng chưa được rõ ràng. Các tác giả của lá thư từ Anh Quốc nghĩ có thể vì dòi đã sinh sản ra một chất tương tự như là trụ sinh, hoặc là dòi đã làm thay đổi nồng độ acid (pH) của vết thương, hoặc dòi đã tiêu hóa và giết vi trùng. Trong một cuộc khảo cứu, người ta đã còn tìm thấy trong phân tiết (secretion) của dòi có những chất làm kích thích được sự sinh sản những tế bào, mô lành mạnh.

Những viên chức y tế trong chính phủ Anh có vẻ đồng ý như vậy. Theo các tác giả của lá thư, đã có hơn 3500 lọ đựng dòi vô trùng (sterile larvae) loại Lucilia sericata, là dòi của loài ruồi nhặng xanh (the common greenbottle), loại nhặng thường bay ở trong nhà, được gửi cung cấp đến 400 trung tâm y khoa ở bên Anh.

Tổng quát, hiện nay phương pháp chữa trị bằng dòi vẫn chưa được phổ biến rộng rãi và chỉ để dành cho những trường hợp các vết thương lở loét ở giai đoạn cuối, đã thối dù đã chữa bằng nhiều trụ sinh khác nhau hay giải phẫu.

Bác sĩ John Church và các đồng môn của ông ở Anh Quốc đề nghị nên dùng dòi để chữa các vết thương nhiễm trùng sớm hơn, thay vì đợi đến lúc cuối khi thấy “hết thuốc chữa”. Họ cho là dùng dòi chữa vết thương an toàn và hiệu nghiệm như trụ sinh.

Trở lại chuyện kiếm hiệp Trung Hoa của Kim Dung. Tác giả Kim Dung có rất nhiều bộ kiếm hiệp có thể nói là tuyệt tác như Lục Mạch Thần Kiếm, Cô Gái Ðồ Long, Anh Hùng Xạ Ðiêu, Thần Ðiêu Ðại Hiệp, Tiếu Ngạo Giang Hồ, Lộc Ðỉnh Ký… Những bộ truyện khác cũng hay là Thần Ðao Hồ Ðại Ðởm, Huyết Hoa Lục… Ðộc giả chuyện Kim Dung bị lôi cuốn, say mê và có thể nhận ngay ra bút pháp thần kỳ, có một không hai trên đời, của ông.

Nhưng, có nhiều chuyện kiếm hiệp đề tên tác giả là Kim Dung nhưng có thể đoán được không phải do chính Kim Dung viết.

Hồng Hoa Kiếm là một thí dụ điển hình, rõ ràng do một người… Việt Nam viết!

Vào chuyện, bắt đầu của trang thứ nhất là những câu thơ:

“Chàng tuổi trẻ vốn dòng hào kiệt
Xếp bút nghiên theo việc đao cung…”

Chả lẽ Kim Dung lại lấy thơ Chinh Phụ Ngâm Khúc của Nữ Sĩ Việt Nam Ðoàn Thị Ðiểm ra để làm thơ mở đầu cho quyển truyện. Chuyện tuy có thể xẩy ra nhưng không lẽ lại xẩy ra!

Trang thứ hai, người viết muốn giả làm Kim Dung, nhưng đã lại… “lòi đuôi” ra ngay:

“…Thời ấy nước ta nhằm thời Tây Sơn Nguyễn Huệ, bên Tàu vào đời vua Càn-Long nhà Thanh năm thứ mười ba, vào giữa tiết thu lạnh lẽo…”

Không thể nào Kim Dung lại có thể viết: “…Thời ấy nước ta nhằm thời Tây Sơn Nguyễn Huệ…” Ông Kim Dung đâu có phải là người Việt Nam!

Nhưng căn bản quan trọng nhất là Hồng Hoa Kiếm là một trong những quyển tiểu thuyết kiếm hiệp thật nhàm chán. Càng đọc về sau càng thấy không hay và khó có thể đọc hết được cả bốn quyển. Không thể nào Kim Dung có thể viết chuyện không có gì hay như vậy!

Tương tự như Hồng Hoa Kiếm, những bộ chuyện như Hậu Cô Gái Ðồ Long, Hậu Thần Ðiêu Ðại Hiệp… in ra đề tên tác giả Kim Dung nhưng đọc thấy rõ ngay không phải của ông. Những quyển truyện này đề có những cốt chuyện, tình tiết… thật là tầm thường, không mạch lạc và làm độc giả thấy chán ngán, mất thì giờ khi đọc.

Ðó là những chuyện kiếm hiệp hầu như chắc chắn đã viết ra bởi những Kim Dung… giả!

Phạm Anh Dũng
Santa Maria, California USA

Cuối Năm Nghe Nhạc Phạm Anh Dũng (Chu Tất Tiến)

CUỐI NĂM, NGHE NHẠC PHẠM ANH DŨNG
 

Chu Tất Tiến

Từ khi hội họa được chính thức tôn trọng như một nghệ thuật tôn quý, các họa sĩ thường chọn sẵn cho mình môt trường phái để theo đuổi như Renaissance với Donatello, Leonardo Da Vinci, Sandro Bortinelli, Michael Angelo, Jan Van Eyck; Baroque với Bernini Rembrant;  Neo-classicism với Jacques Louis David, Impressionism với Monet, Van Gogh, Cézanne, và Paul Gaughin; Cubism với Picasso… Cuối thế kỷ 20 lại có Futurism và Motion, rồi Unrealistic với khá nhiều họa sĩ đương đại. Theo chiều hướng đó, các họa sĩ Việt Nam (ở miền Nam) cũng được tự do theo đuổi một đường lối riêng của mình để cho ra đời những tác phẩm độc đáo, ngoài những trường phái trên, đặc biệt là nghệ thuật hội họa mầu nước và vẽ trên lụa.
  

Tương tự như thế, các nhạc sĩ sáng tác Việt Nam (trừ các nhạc sĩ ở miền Bắc không có tự do sáng tác) cũng tự chọn cho mình một đường lối sáng tác riêng biệt. Với trường phái lãng mạn và viết theo quy tắc cổ điển qua các nhịp điệu Valse, Blue, Tango, hay Slow, có các nhạc sĩ tiền phong của nền tân nhạc như Văn Cao, Phạm Duy, Tô Vũ, Lê Thương, Chung Quân, Anh Việt, Dương Thiệu Tước, Doãn Mẫn, Đoàn Chuẩn, Từ Linh, Đặng Thế Phong, Đỗ Nhuận, Hiếu Nghĩa, Hoàng Quý, Hoàng Giác, Hoàng Trọng, La Hối, Đan Trường, Lê Trạch Lựu, Ngọc Bích, Nguyễn Văn Tý, Nguyễn Văn Thương, Nguyễn Văn Khánh, Lê Mộng Nguyên,.. Các bản nhạc này thường được sáng tác trong thập niên 30 trước chiến tranh Việt-Pháp  nên được gọi là “Nhạc Tiền Chiến”. Thực tế, nhiều bản nhạc đã được sáng tác sau cuộc di cư 1954 cũng được gọi là “nhạc tiền chiến” vì cũng mang âm hưởng lãng mạn, cổ điển như các bản nhạc của thập niên trước. Sau đó là những bản nhạc  mang một chút cách tân của Cung Tiến, Lâm Tuyền, Nguyễn Văn Đông, Nguyễn Hiền, Nguyễn Mỹ Ca …Riêng nhạc của “Thầy” Nguyễn Văn Đông, một Tiến Sĩ Âm Nhạc Paris, là Thầy của rất nhiều ca sĩ nổi tiếng Saigon, đã mang một âm hưởng đặc biệt, vì ông còn là một đạo diễn cổ nhạc Đông Phương Tử, một kịch tác gia có nhiều thoại kịch đem lại những tiếng cười cùng những giọt lệ trên sân khấu Saigon qua những vở kịch do Kim Cương đóng làm Saigon đẫm lệ.
 

Điều đáng ngạc nhiên là sau cuộc di cư 1954, âm nhạc Việt lại nổi lên một chiều hướng mới: nhạc phổ thông (Popular hay Pop) gồm những bản nhạc kể lể những nỗi buốn da diết với những mối tình không trọn vẹn. Các nhạc sĩ thuộc trường phái phổ thông này thường sử dụng loại nhạc Rumba, Bolero nhịp nhàng để làm giá nâng đỡ cho các lời hát thật đơn giản như lời kể chuyện bình thường để có thể thấm nhập một cách dễ dàng vào những tâm hồn đơn sơ của người miền Nam. Cùng thập niên đó, các bản nhạc theo thể điệu Slow, Slow Rock, March, hay Paso Doble cũng rất được ưa chuộng. Trong số những nhạc sĩ tiêu biểu của loại nhạc này, người ta thấy có: Anh Bằng, Đinh Trầm Ca, Khánh Băng, Hoàng Nguyên, Nhật Ngân, Trịnh Lâm Ngân, Y Vân, Đỗ Kim Bảng, Phạm Mạnh Cương, Lê Hựu Hà, Phạm Trọng Cầu,Trầm Tử Thiêng, Lê Trọng Nguyễn, Trường Sa, Dũng Chinh, Mạnh Phát, Phạm Thế Mỹ…Nhưng phải nói những bản nhạc phổ thông có lời ca rất mộc mạc, chân thành, có tính chất kể lể của các nhạc sĩ Huỳnh Anh, Lam Phương, Nguyễn Hữu Thiết, Duy Khánh, Hoàng Thi Thơ, Minh Kỳ, Châu Kỳ, Lê Dinh, Thanh Bình, Thanh Trang, Đỗ Lễ, lại được số đông thính giả miền Nam ưa thích vì đã thể hiện giùm họ những điều mà họ nói không được.  Bên cạnh đó, có những tác phẩm mang lời nhạc triết lý cao siêu, muốn tách rời âm hưởng của những bản nhạc mang tính chất phổ thông, nhưng không hoàn toàn cổ điển như của Cung Trầm Tưởng, Từ Công Phụng, Trịnh Công Sơn, Phạm Đình Chương, Vũ Đức Sao Biển, Vũ đức Nghiêm, Vũ Thành An…lại có những thính giả chọn lọc khác.
 

Sau 1975, sang đến hải ngoại, một số tác phẩm được sáng tác sau này bỗng đột nhiên xuất hiện và tạo nên một trường phái mới, dung dị hơn và thẩm thấu vào tâm hồn người nghe nhanh hơn. Trong số những nhạc sĩ sáng tác nhiều sau khi định cư ở Mỹ có Đức Huy và Phạm Anh Dũng. Nhạc Sĩ Phạm Anh Dũng, một Bác Sĩ Y Khoa, nhưng có tâm hồn đam mê âm nhạc mạnh mẽ đến nỗi chỉ trong khoảng 2 thập niên, ông đã sáng tác gần 400 bản nhạc, một kỷ lục hiếm có trong làng âm nhạc. Một điều đặc biệt là ông viết nhiều bản nhạc về một loài hoa phù dung, chỉ nở trong một khoảnh khắc ngắn ngủi rồi tàn ngay: Hoa Quỳnh. Những bản nhạc viết về Hoa Quỳnh gồm có: Quỳnh, Đêm Nguyệt Quỳnh, Quỳnh Hoa, Quỳnh Lan, Quỳnh Giao, Quỳnh Như, Quỳnh Mơ,Với Quỳnh, Nụ Quỳnh rướm máu, Như đóa dạ quỳnh, Quỳnh thi, Quỳnh Lệ, Người yêu dấu mang tên một loài hoa, Dạ Quỳnh Hương, Hoài Mong, Da Khúc. Ông cũng thường nói về chữ Tình: Tình Khúc Mùa Xuân, Tình khúc mùa Hạ, Tình Khúc mùa Thu, Tình Khúc mùa Đông. Những bản nhạc của ông không viết trên những “Melody” phức tạp trong khi ngôn ngữ sử dụng trong bản nhạc lại đơn giản nên nhiều bản nhạc của ông đã thẩm thấu vào tâm hồn của hầu hết người nghe. Hai bản nhạc về Mẹ của ông làm người nghe thấy nước mắt tràn mi: Mẹ Ru Con và Mẹ vàng úa. Trong bài “Mẹ Vàng Úa” có những câu làm cho người nghe muốn khóc: “Mẹ già như cây tàn héo. Nhớ con yêu xa quê lâu rồi. Chiều về về qua xóm nghèo. Chiều vàng, vàng trên đường phố. Mẹ già như nắng vàng úa. Gió heo may hiu hiu u sầu. Nhin dòng sông tím lạnh. Lạnh buồn, lạnh tím tâm hồn. Chiều xuân đó, con đi mai vàng thôi nở. Liễu xuân mềm lặng lẽ rũ bên song. Bầy chim bé tiếng hót đã ngưng từ lâu. Mẹ nước mắt chan hòa má nhăn nheo..Một ngày con đã về đến. Đến quê hương nhưng sao vắng mẹ. Chỉ còn một chiếc bình. Trong bình là tro xác mẹ.”
 

Những lời nhạc trong các tác phẩm của người nhạc sĩ, bác sĩ y khoa này, dù là sáng tác hay phổ nhạc từ thơ, đều được chọn lựa kỹ càng, và sắp xếp theo một trình tự để người nghe thông cảm được ngay tâm hồn nghệ sĩ của tác giả. Trong bài “Nhạc Quỳnh Cuối cùng”, lời nhạc như thanh thoát gợi buồn, nhưng không quá đẫm lệ: “Đêm khuya dăng sầu, Môt vì sao thấp thoáng trong đêm tối mênh mang, Dòng lệ ai tê tái. Thấm ướt không gian buồn.. Rồi từ xa tiếng dương cầm thoảng theo gió ai sẽ hát cung trầm. Tình đến rồi đi mà sao lòng vẫn mong chờ”.
 

Những bài thơ được ông phổ nhạc là những bản nhạc được trau chuốt từng âm điệu như bài “Nước Chẩy Qua Cầu” (thơ Hoàng Ngọc Quỳnh Giao): “Mai kia nước chẩy qua cầu, nước đau nước khóc ai sầu nhớ thương. Em đi gió quyện mùi hương. Nắng lên suối tóc, còn vương nốt buồn. Lá rơi từng chiếc bên đường. Vàng phai mầu áo đoan trường cung thương. Nhớ luôn mấy độ tà dương. Vấn vương đỉnh ngự dòng Hương ngập ngừng. Mai kia chạnh nhớ câu thề Qua cầu nước chẩy bốn bề vọng âm.”

Bài “Gửi người dưới mộ” (thơ Đinh Hùng) đã xót xa mà được những cung nhạc buồn của Phạm Anh Dũng làm cho người nghe thấy cả khung trời như chơi vơi quá đỗi: “Trời cuối thu rồi em ở đâu? Nằm bên đất lạnh chắc em sầu? Thu ơi đánh thức hồn ma dậy. Ta muốn vào thăm nấm mộ sâu. Em mộng về đâu? Em mất về đâu? Từng đêm tôi nguyện cầu. Đây mầu hương khói là mầu mắt xưa.”
 

Trong khi đó, tính lãng mạn trong tâm hồn người nhạc sĩ đã làm rung lên tiếng nhạc: “Em ơi! đêm thơm môt đóa quỳnh. Cùng em hương vương không gian. Cho ta mơ say ngát tình. Quyện mầu xanh thắm môi em.” (Dạ quỳnh hương).

Đôi khi, Phạm Anh Dũng lại thổ lộ nỗi đau không tên về những kỷ niệm xưa như trong bài “Nhớ Saigon”: “Biết đến bao giờ gặp lại người xưa. Thương cho mùa mua qua thành phố vắng. Lang lang miệt mài năm tháng. Bao nhiêu luyến tiếc xa ngàn. Buồn thương vương lên mầu áo….”
 

Như thế, viết về Phạm Anh Dũng, thật ra không dễ, vì tâm hồn của ông bao la quá, phương diện nào cũng thấy ông chan chứa tình cảm. Với hơn 400 bản nhạc viết trong môt thời gian kỷ lục, Phạm Anh Dũng đã chứng tỏ tuy là em nhỏ trong làng nhạc sĩ, nhưng cũng không thua kém đàn anh mấy, cũng như Trương Vô Kỵ, hậu sinh khả úy mà võ nghệ tuyệt luân, văn võ toàn tài, chiêu nào đánh cũng ác liệt, nhưng lại luôn nhịn nhường. Phạm Anh Dũng, ngoài đời sống thường nhật, là một người khiêm cung, không vì số lượng các bản nhạc mà ông sáng tác, làm cho ông mất đi bản tính yêu người và thích phục vụ tha nhân của một Quân Y Sĩ từng chiến đấu sinh tử bên chiến hào những năm trước 1975. Ngày cuối năm xa quê, nghe nhạc Phạm Anh Dũng, mà tưởng đến một chàng Vô Kỵ Anh Dũng đang hạnh phúc bên Triệu Minh, xứng đáng cho thời gian lao tâm khổ trí bên những cung nhạc phục vụ cho đời.

Chu Tất Tiến, Ngày chờ năm Đinh Dậu. 

(trích Việt Báo ngày 26 tháng Giêng 2017)

Chu Tất Tiến

CẢM NGHĨ VỀ TỔ KHÚC BẦY CHIM BỎ XỨ / Phạm Anh Dũng

Cảm nghĩ đầu tiên sau khi nghe xong Tổ Khúc Bầy Chim Bỏ Xứ là một sự ngạc nhiên lớn lao. Ngạc nhiên vì nhạc sĩ Phạm Duy, một người đã sáng tác nhạc từ nửa thế kỷ nay, bắt đầu bằng những bản nhạc thời kháng chiến chống Pháp, đến nay vẫn tiếp tục sự nghiệp với những tác phẩm lớn lao như Bầy Chim Bỏ Xứ.

Nói về Phạm Duy, có lẽ không ai có thể viết hết về con người và sự nghiệp của ông, Phạm Duy đã đi vào dân tộc, quê hương, tình yêu… bằng âm nhạc. Kể từ những năm chống Pháp với những bản nhạc Kháng Chiến , rồi Dân Ca, Tâm Ca, Ðạo Ca, Tình Ca, Du Ca, Nhi Ðồng Ca, Ngục Ca, Rong Ca … hàng Ngàn Lời Ca, dòng nhạc của ông đã thấm vào bao nhiêu thế hệ. Có lẽ to tát nhất là những bản Trường Ca Phạm Duy. Bắt đầu là Con Ðường Cái Quan, xong đến Mẹ Việt Nam và Bầy Chim Bỏ Xứ. Phạm Duy gọi là Tổ khúc, nhưng theo ý tôi đây cũng là một Trường ca. Danh từ Tổ khúc được chọn có lẽ để cho phù hợp với câu chuyện của loài chim.

Qua những thể điệu ca dao, dân ca, Phạm Duy đã kể nhiều câu chuyện của các loài chim để diễn tả một Trường Ca Bi Hùng của Dân Tộc Việt Nam trong mười lăm năm qua. Câu chuyện bắt đầu từ ngày ”Bầy chim buồn bã rủ nhau trốn quê hương” khi ”Trời chợt kéo mây đen”. Qua đến đoạn chim Quyên uất ức thổ máu tươi nơi miền tuyết phủ, rồi tái sinh, hóa thân làm con chim Quốc kêu gào cho quê hương, đến những khúc diễn tả chuyện xa nhà, nhớ nhà… và cuối cùng trở về quê hương ”khâu vá đời sau”.

Phạm Duy làm người nghe liên tưởng ngay đến cuộc hành trình bỏ xứ mười lăm năm của người Việt lưu vong. Cũng như chim Quyên bao nhiêu người đã ngã bệnh (kể cả bệnh tâm thần), và dĩ nhiên cũng có người đã mất sớm. Cũng như chim Chèo Bẻo đánh Quạ, có những anh hùng kháng chiến phục quốc. Cũng như chim Én đưa tin, có những người làm được liên lạc trong và ngoài nước. Có những loài chim nhỏ bé bị ức hiếp bởi loài Ưng Ó… Có những con chim Chích Chòe ”vượt biển về đâu?”… Những câu chuyện tương tự như vậy được lồng vào những khúc nhạc thật là tân kỳ.

Phạm Duy đã phân biệt rõ hai loại chim. Một loại xấu, ác như Quạ, Diều Hâu, Kên Kên… Một loại tốt như Quyên, Gia, Quốc, Én… Ông nhắc nhở đến tình yêu quê hương dân tộc qua những con chim Lạc, Hồng, Việt… Hàng chục loại chim được nhắc nhở trong Trường Ca này và mỗi con chim hình như có cá tính hay câu chuyện khác nhau phức tạp như đời sống chúng ta. Ðặc biệt Phạm Duy đề cập đến chim Thanh ở nhà lặng thinh không hót dù thèm hát, khóc hay cười. Ðó là câu chuyện của ca sĩ Thái Thanh, mười năm ở lại nhất định không hát dù bao nhiêu người quyền thế mời mọc. Dĩ nhiên chúng ta đều biết tiếng hát vuợt thời gian nay đã cất lên lại ở đây để hát mãi cho Tình Người và Quê Hương, nhất là để hát nhạc của Phạm Duy!

Trường Ca Bầy Chim Bỏ Xứ được trình bày bởi hai giọng ca Vũ Anh và Kim Tước. Ai cũng biết giọng ca cao vút, trong sáng như pha lê của Kim Tước qua những bản nhạc bất hủ của Vũ Thành, Dương Thiệu Tước, Phạm Ðình Chương… ngày xưa trong những chương trình nhạc của Ban Ðại Hòa Tấu Vũ Thành hay Hoàng Trọng. Thiết tưởng không cần phải nói thêm.

Vũ Anh là một giọng ca mới. Câu chuyện Bầy Chim Bỏ Xứ được trình bày chính là từ Vũ Anh và với Kim Tước phụ thêm. Giọng hát Vũ Anh là một giọng hát ”opera”, ta có thể ”cảm” được những ý tưởng của Phạm Duy muốn diễn tả. Nghe Vũ Anh hát, người ta có thể ”thấm” được tình cảm quê hương, dân tộc.

Phần nhạc đệm do Phạm Duy Cường soạn và thực hiện. Chắc không mấy người không biết tài hòa âm, phối khí của Phạm Duy Cường. Là một nghệ sĩ trẻ tài hoa, Phạm Duy Cường đã làm thính giả Việt Nam ngây ngất qua những bản nhạc hòa tấu (như compact disc Ðêm Nguyệt Cầm) và những phần nhạc đệm công phu cho các ca sĩ nổi tiếng (như trong nhiều compact disc của hãng nhạc Diễm Xưa). Tôi thú thật đã phải sững sờ khi nghe compact disc Nhạc Tình Phạm Duy khoảng hai năm trước. Sau đó, Phạm Duy Cường cũng có thêm một compact disc đặc biệt khác, đó là Mười Bài Rong Ca cũng của Phạm Duy. Bây giờ đến Bầy Chim Bỏ Xứ.

Nhạc Tình Phạm Duy có âm hưởng cổ điển (classic), Mười Bài Rong Ca lại được hòa âm theo lối Hiện Ðại (New Age). Bầy Chim Bỏ Xứ và Mười Bài Rong Ca (cũng như Nhạc Tình Phạm Duy) được thực hiện bằng nhạc khí và phương pháp Tây phương, nhưng cả hai đều cho người nghe một cảm giác và một âm hưởng rất Việt Nam. Ðiều này thì thật là khó, nhất là đối với Trường Ca Bầy Chim Bỏ Xứ dựa vào nhạc ca dao, dân ca, và thể ngũ cung (Pentatonique). Thính giả nghe kỹ sẽ thưởng thức được những âm thanh chim hót, nước chảy, sóng đưa…

Bầy Chim Bỏ Xứ là cả một công trình nghệ thuật. Cảm nghĩ cuối cùng của tôi: Phạm Duy đến bây giờ cũng vẫn như là một huyền thoại…

Phạm Anh Dũng
Santa Maria, California USA

Bầy Chim Bỏ Xứ (Phạm Duy) Trần Chúc và ban hợp xướng Ngàn Khơi

MAI HƯƠNG, NGƯỜI NHẶT CÁNH SAO RƠI

MAI HƯƠNG, NGƯỜI NHẶT CÁNH SAO RƠI

Thuở mới bắt đầu lang thang, lưu lạc ở ngoại quốc, rất khó tìm được băng nhạc giá trị. Ngày đó những ca sĩ thượng thặng như Thái Thanh, Duy Trác, Anh Ngọc… hãy còn bặt tiếng ở trong nước.
Mãi đến khoảng 1985, tìm được cuộn băng “Tiếng Hát Mai Hương / Giấc Mơ Hồi Hương”, tôi quý vô cùng. Ngoài Giấc Mơ Hồi Hương, của Vũ Thành, băng nhạc còn những tác phẩm tuyệt diệu khác như Cung Đàn Xưa (Văn Cao), Hương Xưa (Cung Tiến), Tà Áo Văn Quân (Phạm Duy Nhượng), Đưa Em Tìm Động Hoa Vàng (thơ Phạm Thiên Thư, nhạc Phạm Duy)… Mai Hương hát hay với Phạm Đình Chương, Lê Văn Thiện, Văn Phụng và Huỳnh Anh hòa âm. Cuối băng nhạc, Mai Hương có chào tạm biệt và hẹn gặp lại trong băng nhạc Mai Hương sau.

Đến tám hay chín năm, không thấy bóng dáng băng nhạc thứ hai của Mai Hương đâu cả. Tôi biết, nhưng không có dịp nghe, Mai Hương vẫn có hát với Ban Hợp Xướng Ngàn Khơi của Trần Chúc hay Ban Tứ Ca Thùy Dương. Và thỉnh thoảng chỉ được nghe Mai Hương hát lẻ tẻ trong những băng nhạc như “Tiếng Chiều Rơi /Lê Văn Khoa”, “Dấu Vết Tình Ta 1/Diễm Xưa”, “Hoài Bắc 1 / Đôi Mắt Người Sơn Tây”, “Hoài Bắc 2 / Người Đi Qua Đời Tôi” và … “Tình Ca Phạm Anh Dũng / Đưa Người Về Phương Đông”.
Chỉ mãi gần đây, thính giả yêu nhạc mới được thưởng thức băng nhạc đó, mới, với hoàn toàn giọng hát của Mai Hương. 12 bản nhạc, đa số thuộc nhạc tiền chiến, bất diệt, sáng tác bởi những tên tuổi lớn của nhạc Việt như Văn Cao, Vũ Thành, Dương Thiệu Tước, Tô Vũ, Tử Phác, Dzoãn Mẫn, Nguyễn Văn Quỳ, Đan Trường… rồi Ave Maria của Gounod, hòa âm do những nhạc sĩ lừng danh Văn Phụng, Nhật Bằng, Lê Huy và Vũ Tuấn Đức đã thừa sức bảo đảm trình độ nghệ thuật cao của băng nhạc “Tiếng Hát Mai Hương / Nhặt Cánh Sao Rơi”.

Về Văn Cao. Nếu ông không có những bài hát vớ vẩn, tôi không thích chút nào và tôi không tưởng tượng là do Văn Cao sáng tác, như Ca Ngợi Hồ Chủ Tịch, Công Nhân Việt Nam…, tôi sẽ nghĩ Trịnh Công Sơn đúng khi viết: “…Trong âm nhạc, Văn Cao sang trọng như một ông hoàng… Âm nhạc của anh Văn là âm nhạc của thần tiên bay bổng… tôi nghe trong âm nhạc anh gió vẫn chuyển và cây thay lá…”.

Từ những bài nhạc hùng như Gò Đống Đa, Chiến Sĩ Việt Nam, Thăng Long Hành Khúc Ca… đến tình ca như Thu Cô Liêu, Buồn Tàn Thu (Chinh Phụ Khúc), Cung Đàn Xưa, Suối Mơ (Bài Thơ Bên Suối), Bến Xuân (Đàn Chim Việt)… mà tuyệt đỉnh là Thiên Thai và Trương Chi, đều là những khúc nhạc có giá trị và đã tồn tại cả nửa thế kỷ và sẽ mãi mãi lưu truyền về sau.

1947. Sau chiến thắng sông Lô của quân Việt chống Pháp, nhiều nhạc sĩ cảm hứng viết thành bài hát, Lương Ngọc Trác viết Lô Giang, Phạm Duy viết Tiếng Hát Trên Sông Lô…
Riêng Văn Cao, khác hẳn, ông đã hoàn thành một tác phẩm lớn lao Trường Ca Sông Lô, đó là bản nhạc mở đầu cho băng nhạc “Nhặt Cánh Sao Rơi”.
Mai Hương cùng Vũ Anh, Kim Tước và Quỳnh Giao đã đưa thính giả vào thế giới của giai đoạn quân kháng chiến Việt Nam (không chỉ của Việt Minh) chống Pháp ở vùng Việt Bắc ngày xưa.
Đoạn mở đầu ở âm giai Ré Trưởng, chậm và tình cảm, tả cảnh êm đềm của sông Lô trong mùa Thu:
“Sông Lô, sóng ngàn Việt Bắc, bãi dài ngô lau, núi rừng âm u
Thu ru bến sóng vàng, từng nhà mờ biếc chìm một màu khói Thu…”

Chiến tranh bùng nổ:
“…Sông Lô sóng ngàn kháng chiến, cháy bờ lau thưa, đã tàn thôn trang…”

Và chiến thắng Sông Lô, nhạc nhanh hơn, chuyển thẳng qua Sol Trưởng:
“…Trên dòng sông trở về, đoàn người reo mừng vui
Trên sóng nước biếc, trôi đầy sông bao đám xác thù…

Dòng sông vui mừng cùng dân chúng:
“…Dân hân hoan nghe sóng reo vi vu xa xa…”
Đến âm giai Si Trưởng với nhịp hành quân hùng mạnh của
“…đoàn quân thời chinh chiến…chiến sĩ sông Lô”.
Màn đêm buông xuống, nhạc lắng đọng, giọng Mai Hương chậm, truyền cảm:
“Về trong đêm gió rét. Từng sân vui bóng người quanh lửa hồng”
Bản nhạc sau đó trở về Sol Trưởng, nhạc vui nhanh khi thanh bình về lại với dòng sông và dân chúng bắt đầu xây dựng lại đời sống mới:
“…vui hát ca hòa vui hát ca…buông lưới đánh cá…đắp nhà”.
Cuối cùng, để chấm dứt, nhạc chậm lại, trở lại Ré Trưởng của đoạn mở đầu để Mai Hương, Vũ Anh, Kim Tước và Quỳnh Giao kết thúc bằng vài câu nhạc tình cảm nhẹ, tả cảnh mùa Xuân của dòng sông:
“…Mùa Xuân tới, nước băng qua ngàn, nuớc in ven bờ xanh ôm bóng tre
Dòng Sông Lô trôi…”

Trường Ca Sông Lô của Văn Cao không dài lắm nhưng rất đều đặn, cách chuyển âm giai từ đoạn này sang đoạn khác khéo léo, xứng đáng là bản Trường Ca đầu tiên của âm nhạc Việt Nam. Trường Ca Sông Lô của Văn Cao đã mở đường cho những trường ca Việt Nam khác của Phạm Đình Chương ( Hội Trùng Dương), Lê Thương (Hòn Vọng Phu) và Phạm Duy (Mẹ Việt Nam, Con Đường Cái Quan, Bầy Chim Bỏ Xứ và Hàn Mặc Tử).

Về tình ca, có lẽ không có bài nào của Văn Cao và có lẽ khó có bài nào của bất cứ nhạc sĩ Việt Nam khác có thể so sánh với hai nhạc phẩm Thiên Thai và Trương Chi. Thế giới âm nhạc tình yêu của Văn Cao là hình ảnh của Thiên Thai trong giấc mộng Đào Nguyên và tâm sự của Trương Chi, truyện truyền kỳ, nhưng hình như cũng là tâm sự của chính ông, người nghệ sĩ cô đơn. Không biết về đời sống thực của ông, chắc ông cũng có gia đình êm ấm, nhưng về nghệ thuật nhiều khi tôi thấy ông có vẻ đơn độc, khác người:
“Chiều nay run rẩy tha đôi cánh
Một bóng sơn ca đến lạc loài”
 (thơ Văn Cao)

Trong băng nhạc “Nhặt Cánh Sao Rơi”, ta gặp lại chuyện cổ tích Trương Chi-Mỵ Nương. Trương Chi là một hình ảnh ám ảnh Văn Cao khá mạnh. Trong Cung Đàn Xưa đã có bóng hình của chàng Trương Chi xấu số:
“…Chiều năm nay bóng người khơi thương
Tiếng đàn gieo oan giấc mộng chàng Trương…”.
Mai Hương đã đem hết tâm hồn diễn tả bản nhạc của chàng Trương Chi Văn Cao. Bài hát cả nhạc lẫn lời viết thật tài tình. Bắt đầu bằng những câu nhạc chậm của Ré Thứ miêu tả khung cảnh trăng nước hòa vào tiếng hát của họ Trương. Câu đầu tiên đã hay:
“Một chiều xưa trăng nước chưa thành thơ…”
Không nói đến nhạc vội. Chỉ bàn về lời. Trăng nước thành thơ đã là hay nhưng “trăng nước chưa thành thơ” thì thật tuyệt lạ.
Tiếng hát Trương Chi xuất hiện cùng với mùa Thu:
“…Ôi, tiếng cầm ca Thu tới bao giờ…”
Rồi giọng Mai Hương có vẻ lãng mạn khi diễn tả trong đêm khuya vắng, Mỵ Nương lả lơi nghe tiếng đàn hát của người lái đò từ chốn phòng loan, nơi Tây Hiên.
Mai Hương, buồn thấm thiết đưa hồn người đến lúc:
“…Oán trách cuộc từ ly não nùng…”
Và đến lúc thuyền và người chìm sâu đáy nước. Nhưng vẫn có đâu đó:
“…Từng khúc nhạc xa vời, trong đêm khuya dìu dặt tiếng tơ rơi…”
Hay:
“…Dâng ứa trăng về khuya, bao tiếng ca ru mùa Thu”
Mưa gió đến, nhạc chuyển bất ngờ, dồn dập vào Sol Trưởng:
“Ngoài song mưa rơi trên bao cung đàn, còn nghe như ai nức nở và than
Trầm vút tiếng gió mưa, cùng với tiếng nước róc rách, ai có buồn chăng
Lòng bâng khuâng theo mưa đưa canh tàn, về phương xa ai nức nở và than
Cùng với tiếng gió vương, nhìn thấy ngấn nước lấp lánh, in bóng đò xưa…”

Mai Hương hát chỗ này đúng ý viết nhạc. Rất quan trọng phải hát đúng ở đây vì Văn Cao dùng những dấu lặng sau mỗi nốt nhạc ở chỗ này thật kỳ diệu và diễn tả rõ được những giọt mưa rơi như những giọt nước mắt trên phím ngà. Nghe kỹ ta có thể “nghe” được “tiếng nước róc rách” của giọt mưa, hay “nhìn” thấy “ngấn nước lấp lánh” của dòng sông, cũng nhờ những dấu lặng đặt đúng chỗ. Đã một lần, tôi nghe có một ca sĩ có giọng rất tốt, rất dài hơi hát Trương Chi và ở đoạn này đã “nuốt” mất những dấu lặng làm mất ý nghĩa.
Hai chữ “gió” ở những nốt nhạc cao và được láy. Mỗi chữ là bốn móc đơn được nối vào nhau, láy, để diễn tả “gió”, chữ thành dài ra nghe rất tượng thanh.
Mai Hương, buồn não nề, đưa người trở lại âm giai chính Ré Thứ, trở lại với chính tâm sự của chàng Trương Chi thời đại,Văn Cao, người nghệ sĩ cô đơn:
“Đò ơi ! Đêm nay giòng sông Thương dâng cao, mà ai hát dưới trăng ngà
Ngồi đây ta gõ ván thuyền, ta ca trái đất còn riêng ta…”

Và để chấm dứt, ngậm ngùi, một câu hỏi của Văn Cao như cho chính mình:
“… Đâu bóng thuyền Trương Chi ?”
Gần đây tôi có xem một cuộn video về Văn Cao cũng có Trương Chi, Thiên Thai… xuất bản từ trong nước ra. Chỉ có một ấn tượng mạnh duy nhất là giọng nói và hình ảnh thanh thoát của Văn Cao với chòm râu dài bạc lướt thướt. Còn hòa âm không có gì xuất sắc và kỹ thuật thu thanh nghèo nàn. Lại nữa, các ca sĩ không đủ tài diễn tả được những bài hát. Lúc nhạc đến lúc thật là buồn thì lại nhoẻn miệng cười tươi đẹp như hoa nở giữa mùa xuân, thật chướng (điểm này cũng thường thấy ở những video nhạc Việt Nam xuất bản ở hải ngoại). So với Trương Chi và Trường Ca Sông Lô do Mai Hương hát thì đúng là một vực một trời.
Bao giờ mới thấy một băng nhạc có giá trị gồm chỉ những bản của Văn Cao? Nhờ các trung tâm nhạc như đứng đắn như Thúy Nga, Diễm Xưa…trả lời.

Bản thứ hai trong băng nhạc sau Trường Ca Sông Lô là Nhớ Trăng Huyền Xưa của Nguyễn Văn Quỳ. Ông nhạc sĩ họ Nguyễn chỉ có rất ít nhạc truyền lại cho hậu thế trong đó có Nhớ Trăng Huyền Xưa.
Thường thì ta chỉ nghe thấy người bàn đến “tóc huyền” hay “mắt huyền” hoặc “áo huyền” và huyền của tóc, mắt, áo nghĩa là mầu đen. Chắc chắn Nguyễn Văn Quỳ không ám chỉ “trăng… đen” vì trong bài hát trăng rất là sáng. Có lẽ là “trăng huyền hoặc” thì đúng hơn. Cũng có thể là “trăng khuyết” hay “trăng treo ngang trời”.
Bản nguyên thủy viết bằng Blues. Nhật Bằng, vẫn còn đủ phong độ của con chim đầu đàn của ban nhạc nổi danh Hạc Thành ngày xưa (gồm Nhật Bằng, Nhật Phượng, Thể Tần và Hồng Hảo). Anh đổi Nhớ Trăng Huyền Xưa sang Tango và Boléro sống động hơn.
Mai Hương hát thật hay, nhịp nhàng theo Tango mở đầu bản nhạc:
“Bóng trăng dần xuống, hàng cây hắt hiu theo gió buồn
Mây trắng mờ trong bóng đêm, không gian lắng chìm vắng im…”

Nửa bản sau là Bolero, Mai Hương chợt vút lên ngay trong những chữ đầu tiên:
“Dưới trăng huyền xưa, từng ánh lung linh chan hòa muôn gió biếc
Tìm đến bên hoa, gió trăng nhè nhẹ mơn mơn cánh yêu kiều…”

Bản nhạc chấm dứt, tiếng hát vẫn vương vấn.

Dương Thiệu Tước là một trong những nhạc sĩ tiền phong của âm nhạc Việt Nam. Ông sáng tác nhạc theo đủ nhạc điệu. Bản nhạc phổ thông nhất vì dễ trình bày là Bóng Chiều Xưa (lời Minh Trang). Những tuyệt tác của ông như Đêm Tàn Bến Ngự, Áng Mây Chiều, Tiếng Xưa… thì quá nhiều, không thể kể hết ở đây. Bản nhạc riêng tôi thích nhất của Dương Thiệu Tước là Bến Xuân Xanh, bản nhạc Valse hay nhất của ông và có lẽ cho đến nay, cũng là bản Valse hay nhất và dài nhất của nhạc Việt Nam.
Lần này Mai Hương đem Tango của Dương Thiệu Tước đến với Cánh Bằng Lướt Gió. Bài hát có âm hưởng, tình cảm nhẹ nhàng của thời văn nghệ tiền chiến:
“Bên phương trời đượm bao gió sương, mây bao la man mác âm thầm
Chiều chiều buồn âm u tiếng trầm trầm giòng sông nước cuốn cuốn…”

Giữa Thập Niên 1950, phong trào “Nhân Văn Giai Phẩm” ở miền Bắc Việt Nam nổi dậy. Đến bây giờ tôi vẫn còn lạnh người đọc những dòng chữ như:
“Tôi bước đi không thấy phố, không thấy nhà
Chỉ thấy mưa sa trên mầu cờ đỏ”
 (thơ Trần Dần)
hay vẫn kính phục những ý tưởng như:
“Yêu ai cứ bảo là yêu
Ghét ai cứ bảo là ghét
Dù ai ngon ngọt nuông chiều
Cũng không nói yêu thành ghét
Dù ai cầm dao dọa giết
Cũng không nói ghét thành yêu…”
 (thơ Phùng Quán)
Nhân Văn Giai Phẩm là phong trào đòi quyền phát biểu tự do của những nhà trí thức, văn sĩ, họa sĩ, tư tưởng gia, thi sĩ, giáo sư… Những tên tuổi như Phan Khôi, Nguyễn Hữu Đang, Phùng Cung,Hoàng Cầm, Lê Đạt, Phùng Quán… đã làm rung chuyển tận gốc rễ Xã Hội Chủ Nghĩa Cộng Sản ngày đó và vẫn còn ảnh hưởng đến mãi sau nàỵ Về nhạc sĩ có ba người tham dự phong trào là Văn Cao, Đặng Đình Hưng và Tử Phác. Tử Phác có ít tác phẩm lưu truyền nhưng đều xuất sắc cả.
Tử Phác và Lương Ngọc Châu có một bài hát hay vô cùng là Tiếng Hát Lênh Đênh, tựa đề của cuốn băng đầu tiên của Anh Ngọc ở hải ngoại.

Băng nhạc Nhặt Cánh Sao Rơi có Mai Hương hát Tiếng Hát Quay Tơ là một bản Valse do Tử Phác sáng tác và là bản Luân Vũ tương đối nhanh, duy nhất trong băng nhạc rất phù hợp với nhịp của máy quay tơ.
Đây không phải là chuyện nàng quay tơ, anh đan áo trong thời bình như bài nhạc thơ Thoi Tơ của nhà thơ Nguyễn Bính và nhạc sĩ Đức Quỳnh. Đây là chuyện quay tơ của thời chiến.
Mai Hương ở Tiếng Hát Quay Tơ là những lời thầm thì, hiền dịu, những tâm sự đằm thắm của người đàn bà gửi gấm vào tấm vải may áo cho người yêu đang ở nơi biên cương,của những hàng nước mắt dưng dưng nhớ người ở xa…
Hình ảnh của thiếu phụ ngồi quay tơ trong một buổi chiều nắng nhẹ, bỏ hết mọi chuyện và chú tâm vào việc đan áo rét cho người người chiến sĩ của nàng đang ở chốn sa trường là một hình ảnh “cổ điển”, một hình ảnh thật đẹp, thật cảm động của thời đại văn minh tiền chiến:
“…Quay, quay, thương nhớ quyến vào tơ
Quay, quay, xe áo rét dâng chàng
Rộn ràng tơ lướt tới người chiến sĩ yêu
Quay, quay, thương nhớ quyến vào tơ
Quay, quay, chăn ấm quấn thân chàng
Mỗi một đường tơ là mối dây tình trong lòng em dâng người hiên ngang…”

Bản “Nhạc Chiều” của Dzoãn Mẫn thật tuyệt diệu. Một nửa đầu viết theo Luân Vũ 3/4. Mai Hương chậm, nhẹ, vương vấn:
“Chuông chùa vương tiếng ngân, âm thầm trong chiều vắng
Đường tơ lắng buông trong huy hoàng…”

Qua điệp khúc, nhạc ở 4/4, nhanh hơn. Mai Hương hát thêm giọng hai, quyện lấy giọng chính, vui hơn:
“Vương sầu làm chi cho ngày thắm phai
Hãy vang tiếng tơ vui đi cho ngày mai….”

Mai Hương rồi linh hoạt, hát tự đuổi theo giọng chính của mình:
“Nên ngừng bâng khuâng nghe muôn tiếng ca
Cố quên đau thương cho vui lòng ta…”

Bản nhạc trở về một giọng hát, âm điệu chậm 3/4, như đoạn đầu:
“Nhạc chiều êm đưa trong vườn khuya lưu luyến
Âm thanh ghi lấy vài lời u huyền…”

Biệt Ly (“Biệt ly nhớ nhung từ đây…”), bản nhạc hay thấy hát nhất của Dzoãn Mẫn, nhưng Nhạc Chiều có lẽ là bản hay nhất của ông. Và Mai Hương hát Nhạc Chiều thật là điêu luyện.

Một trong những bản nhạc tương đối giản dị mà thật hay, hay lạ lùng, nhưng chả mấy khi được nghe là Trách Người Đi của Đan Trường. Ngày xưa ở Việt Nam tôi chỉ nhớ lại được Pat Lâm, nam ca sĩ người Hoa, hay hát bài này. Mai Hương hát Trách Người Đi rất não lòng. Văn Phụng hòa nhạc xuất sắc.
Tôi thích nhất lúc có tiếng hát Mai Hương họa theo giọng của chính mình, như tiếng gió hú lướt đi:
“…Gió Thu về mang thương nhớ
Đến cho lòng thêm chan chứa
Lá ngô bay trong sương sầu
Biết bao giờ còn thấy nhau…”

Đan Trường, chuyện gì gây cảm hứng để ông viết Trách Người Đi? Ông còn hai bản nữa là Cái Áo The Thâm Tàn và Biệt Quê, tôi biết nhưng chưa được nghe ai hát bao giờ?
Đan Trường, ông là ai? Nhạc Việt cần nhạc sử gia để hậu thế biết đến tất cả nhạc phẩm, nhạc sĩ, ca sĩ… của mọi thời đại. Bao nhiêu nhạc phẩm có giá trị đã mất đi, bao nhiêu nhạc sĩ có tài không ai biết đến. Nửa thế kỷ trước đã có một tờ báo chỉ chuyên về nhạc. Tôi không nhớ tên nhưng nhớ tờ báo sống được ít lâu và cũng chỉ là tờ báo về âm nhạc Việt Nam duy nhất từ xưa đến giờ!

Âm nhạc Việt Nam có những nhạc sĩ chỉ cả đời chỉ có một bản duy nhất thật hay và thôi. Như Con Chim Lạc Bạn của Phạm Văn Chừng, Tan Tác của Tu My… Có thể tôi không được may biết đến, hay vì họ sáng tác nhiều hơn nhưng vì lý do nào đó không được phổ biến hết.
Đào Thừa Liệt cũng là một trong những người này, chỉ có Bến Đò Xưa. Bản hát cũng có lịch sử của nó. Đào Thừa Liệt thương một cô lái đò. Mối tình không thành. Ông làm ra Bến Đò Xưa, rồi bỏ đi Pháp sinh sống. Chuyện tình thật lãng mạn của thời tiền chiến.
Bài hát thật giản dị. Tuy vậy nếu hát đúng như viết thì hơi dài dòng vì bản nguyên thủy viết theo Slow trong khi có rất nhiều nốt nhạc dài hơn dấu móc đơn, có nhiều nốt đen liên ba (là nét đặc thù của tân nhạc Việt Nam), nhiều nốt đen. Lê Huy, người đã từng hoạt động âm nhạc từ những ngày ban Phượng Hoàng còn ở Việt Nam, phụ trách hòa âm cho Bến Đò Xưa đã khéo léo đổi cả bài nhạc sang Bolero và do đó giọng Mai Hương trở nên rất uyển chuyển, nhịp nhàng.
Lời bản nhạc êm như mơ:
“Chiều xưa, có ai qua bến sông Hồng mộng mơ
Dìu dặt, đôi lời hò còn vương vấn nhớ nhung…”

Trong băng nhạc Bến Đò Xưa đề là sáng tác của Đào Thừa Liệt. Thật ra bản nhạc có sự góp sức của Nguyễn Kim nữa. Để cho chính xác hơn: Con Đò Xưa là của Đào Thừa Liệt và Nguyễn Kim.

Hoàng Phú, tác giả của Ngày Xưa, bản nhạc nhắc đến hai dòng sông lịch sử, Hát Giang và Bạch Đằng Giang. Hoàng Phú là em ruột Hoàng Quý, người sáng tác Cô Láng Giềng, Chùa Hương, Đêm Trong Rừng…. Sau khi Hoàng Phú đổi tên thành Tô Vũ. Ông có được ba tác phẩm tình ca nổi tiếng để đời. Đó là Em Đến Thăm Anh Một Chiều Mưa, Tạ Từ và Tiếng Chuông Chiều Thu.
Em Đến Thăm Anh Một Chiều Mưa là một trong những bản đắc ý của Anh Ngọc ngày xưa. Không ai hát bản này bằng anh và rõ ràng không có gì để nói thêm. Tạ Từ thì có lẽ phải nói đến Duy Trác. Bản này anh hát làm rung động bao người.
Cả Anh Ngọc và Duy Trác đều đã hát Tiếng Chuông Chiều Thu và đều hay cả nhưng tôi bàng hoàng nghe Mai Hương. Giọng hát Mai Hương đã làm tâm hồn người nghe chìm xuống vào một buổi chiều Thu với lá rơi nhè nhẹ, với nắng Thu nhạt nhòa, với gió heo may… và có tiếng chuông chùa vọng lại. Tô Vũ đã đắm trong mộng tưởng, trong ước vọng hòa bình có “chuông khơi mùa nắng mới”.
Có hai điểm trong bản nhạc tôi muốn bàn qua:
Thứ nhất:
“…Ai xót ly hương mấy Thu vàng úa
Nhạc say mùa xương máu
Tóc xanh bơ phờ bù rối…”

Chữ “mùa xương máu” ở đây nghe hơi ghê rợn, “nhạc” mà “say mùa xương máu” thì e là loại nhạc sắt máu, không hợp với bản nhạc trữ tình, lãng mạn. Có thể nếu đặt địa vị vào của tác giả thời đó đang chiến tranh đẫm máu thì nghe thông cảm hơn chăng?
Thứ hai. Trong nguyên tác bản Tiếng Chuông Chiều Thu, đoạn kết của Tô Vũ là:
“…Người phương trời xa xôi, gửi em lời yêu thương
Khi lòng mơ màng trầm lắng tiếng chuông chiều Thu
Ngày nào khi chiến chinh xong
Hồi chuông reo vui muôn tiếng đồng
Chuông khơi mùa nắng mới, tình xưa đẹp bao nhiêu
Hồn anh thầm nhắn tiếng chuông ban chiều”

Mai Hương hát theo bản của nhạc sĩ Hoàng Trọng viết lại cho ban Tiếng Tơ Đồng:
“…Người phương trời xa xôi, gửi em lời yêu thương
Khi lòng mơ màng thầm lắng tiếng chuông chiều Thu
Chuông vang lời ước xưa, tình ta đẹp bao nhiêu
Hồn anh thầm nhắn tiếng chuông ban chiều”

Nhạc sĩ Hoàng Trọng đã bỏ hẳn “Ngày nào khi chiến chinh xong. Hồi chuông reo vui muôn tiếng đồng” và chữa thêm vài chữ. Không hiểu bỏ hai câu đó đi thì có hay hơn bao nhiêu, nhưng tôi tiếc không được nghe thêm dòng nhạc nguyên thủy của Tô Vũ.

Cũng như CD Gió Thoảng Hương Duyên của Kim Tước, không phải tình cờ cả hai băng nhạc của Mai Hương đều có tên từ những bản nhạc của Vũ Thành: Giấc Mơ Hồi Hương và Nhặt Cánh Sao Rơi. Tôi nghĩ cố nhạc sĩ Vũ Thành đã để lại niềm kính phục của bao người khác trong đó có Kim Tước và Mai Hương.
Phải nói Vũ Thành là nhạc sĩ có công lao nhiều nhất để xây dựng nền âm nhạc Việt Nam và nhất là đã cố nâng cao tầm thưởng ngoạn của thính giả. Tuy Áng Mây Chiều của Dương Thiệu Tước là bản nhạc Việt đầu tiên có mang tính chất nhạc cổ điển Tây Phương nhưng phải đến Vũ Thành thì loại nhạc này mới đến thính giả thật sự bằng những sáng tác của ông và với Ban Nhạc Đại Hoà Tấu Vũ Thành.
Những bản như Say Nhạc Canh Tàn, Gửi Áng Mây Hàng… là tiêu biểu cho tính chất cổ điển Tây Phương trong nhạc Vũ Thành. Sau này có những nhạc sĩ khác tiếp tục theo Vũ Thành và có những bản nhạc với mầu sắc của nhạc cổ điển: Cung Tiến với Nguyệt Cầm, Mắt Biếc… Lê Văn Khoa với Gọi Nhớ… Phạm Duy thì có một bản Đường Chiều Lá Rụng.
Giấc Mơ Hồi Hương, bản nhạc nổi danh nhất của Vũ Thành. Bản nhạc thương nhớ “em”, thành phố Hà Nội. So với những bài khác của ông, bài này thật dễ nghe vì truyền cảm.
Hai bản của Vũ Thành trong băng nhạc mới của Mai Hương là Nhặt Cánh Sao Rơi và Nhớ Bạn. Hai bản này, theo ý tôi, là gạch nối giữa Giấc Mơ Hồi Hương và những bản gần như hoàn toàn nghiêng về cổ điển Tây Phương đã kể trên.
Trong cả hai bản nhạc, Vũ Thành không dùng chữ “anh” và “em” mà dùng “bạn” và “tôi”. Toàn bộ có vẻ như là nói về bạn bè thương nhớ nhau hơn là về tình yêu lứa đôi. Tôi không rõ ý thật của ông nói về người bạn hay người yêu. Tuy vậy những chữ như “tay nắm tay” trong Nhặt Cánh Sao Rơi hay “niềm ân ái xưa” của Nhớ Bạn thì lại có nghiêng về tình trai gái. Nếu vậy nhạc sĩ Vũ Thành cũng “lạ”. Thành phố ông lãng mạn gọi là “em” mà người yêu lại “mắc cở” gọi tránh đi là “bạn”!
Nhặt Cánh Sao Rơi và Nhớ Bạn, tôi nghĩ đều là tuyệt tác của họ Vũ. Cả hai bản nhạc như gợi niềm hối tiếc những tình cảm, những “bạn” đã xa vắng…
Mai Hương đã hát Giấc Mơ Hồi Hương thật tình cảm và làm rung động thính giả đến mức tột cùng. Mai Hương, trong Nhớ Bạn và Nhặt Cánh Sao Rơi, khác hẳn. Biến chuyển theo dòng nhạc kiêu sa, đài các của Vũ Thành. Bây giờ tiếng hát Mai Hương là của lụa là, gấm vóc:
“Chiều phai nắng rụng lá khô bên thềm
Chiều vương khói nhạc lắng buông êm đềm
Gió chiều nhẹ ru ngàn cây thoáng vương khúc ly ca
Nhắc bao ngày qua khuất mờ gây bao niềm thương nhớ…”
 (Nhặt Cánh Sao Rơi)
Và:
“Xuân vương trên ngàn hoa, nhắc bao sầu nhớ mơ màng
Mây buông trong chiều vắng, như luyến tiếc giấc mơ đã tàn…”
 (Nhớ Bạn)
Tôi đã nghe Nhớ Bạn do Anh Ngọc hát ngày xưa với hòa âm cổ điển phức tạp và công phu của Ban Đại Hòa Tấu Vũ Thành. Lần này nghe Tuấn Đức hòa âm, tuy giản dị nhưng vẫn làm sáng nét nhạc của bài hát.

Bản cuối cùng, bản đáng nói đến nhất trong băng nhạc Nhặt Cánh Sao Rơi là Ave Maria của Gounod.
Nhạc sĩ người Pháp Gounod chính ra chuyên viết operas, nổi tiếng nhất là Faust. Ông có viết một số nhạc khúc và trong đó có Ave Maria. Có hai bản Ave Maria nổi tiếng nhất thế giới, một của Franz Peter Schubert và một của C-harles Francois Gounod (Việt Nam cũng có Ave Maria của Văn Phụng). Cả Schubert và Gounod đều là nhạc sĩ vào thế kỷ thứ 19.
Ave Maria của Schubert là một tuyệt phẩm. Bản nhạc hay từ đầu đến cuối, rất đều đặn. Bản của Gounod, theo ý tôi có lẽ còn hay hơn, vì những nốt cao ngất ngây của đoạn sau đã được sửa soạn thật kỹ lưỡng bằng những dòng nhạc độ cao độ thấp hơn của đoạn đầu.
Phạm Duy viết lời Việt cho bản này thật là hay.
Vào đầu, Mai Hương chậm rãi, tôn kính:
“Cầu xin Maria, thấm nhuần một lòng thương chúng con
Đoái hoài một đàn con khát khao…”

Dòng nhạc cứ thư thả, trầm trầm như vậy…
Rồi tiếng cầu nguyện thôi thúc hơn, cao lên dần:
“Xin cầu một kiếp nào, mối tình xanh mãi mầu
Tiếng hát chầu đưa bao duyên lành mới qua cầu”

Mai Hương, cao nhiều hơn nữa:
“Hoa trong muôn vườn hát khoe mầu”
Và cực điểm, tiếng hát vút lên:
“Người cười trong ánh nắng”
Giọng Mai Hương trở thành chứa chan, bao dung:
“Tiếng reo yên lành
Đây đó ta cùng nép dưới bàn thờ xin cầu lời thương nhau”

Bài hát âm giai chính là Do Trưởng nhưng bản nhạc được chấm dứt bằng hai nốt Sol, thật đặc biệt:
“A men”
Ave Maria là điểm cao nhất của băng nhạc “Nhặt Cánh Sao Rơi”.
Ave Maria là điểm cao nhất của tiếng hát Mai Hương từ xưa đến giờ.

Những ngày ở Việt Nam xưa kia, Mai Hương hát hay, hiền dịu, dễ thương. Đó là những ngày của Dịu Dàng (Văn Phụng), của Hoa Bướm Ngày Xưa (Nguyễn Hiền)…
Ở xứ ngoài, mấy năm trước đây, trong băng nhạc “Giấc Mơ Hồi Hương”, Mai Hương hát hay hơn, đậm, chín… hơn nhiềụ
Với băng nhạc “Nhặt Cánh Sao Rơi”, Mai Hương đã đi xa hơn nữa. Giọng ca đã đến một đỉnh cao.
Nghe xong băng nhạc “Nhặt Cánh Sao Rơi”, tôi tự hỏi: “Những bài hát này, bây giờ, có ai hát hay bằng Mai Hương?”
Câu hỏi cũng đã thầm trả lời.

Phạm Anh Dũng
Santa Maria, California, USA
Ngày 10, tháng 10, năm 1994

QUÁI KIỆT TRẦN VĂN TRẠCH (1924-1994) / Phạm Anh Dũng

QUÁI KIỆT TRẦN VĂN TRẠCH (1924-1994)

    Tân nhạc Việt Nam có nhiều những tình ca buồn, số lượng đến hàng ngàn bản nhạc. Khi nghe những bản nhạc buồn, con người cũng lắng hồn vào tiếng nhạc và có cảm giác buồn.    
Ngược lại khi nghe nhạc vui, tâm hồn người cũng mở rộng chào đón hân hoan. Những bản hùng ca lại làm khơi động những ý chí hào hùng, yêu nuớc. Nghe những bản du ca thấy muốn dấn thân làm việc xã hội. Những bản nhạc nhi đồng làm người nghe thấy tâm hồn trẻ lại.   
Một loại nhạc có thể nói khó sáng tác nhất là nhạc hài hước, loại nhạc nghe có thể vui đến bật tiếng cười. Nhạc hài hước Việt Nam có lẽ chỉ có độ chừng vài chục bản, do những nhạc sĩ thật đặc biệt sáng tác.
Một trong những người đó, một ngạc nhiên cho hầu như tất cả mọi người, là tác giả Trường Ca Hòn Vọng Phu. Chính Lê Thương là người đầu tiên viết nhạc hài hước Việt Nam với những bản nhạc Hòa Bình 48, Liên Hiệp Quốc, Làng Báo Sài Gòn…   
Nhưng nói đến chuyện viết nhạc hài hước và rồi tự đơn ca trình diễn lấy, nổi tiếng cả nước, trong lịch sử âm nhạc Việt Nam chỉ có một người: Trần Văn Trạch.

    Ca nhạc sĩ Trần Văn Trạch, tên thật là Trần Quang Trạch, sinh năm 1924 ở Mỹ Tho, sinh trưởng trong một gia đình toàn là những nhân vật có tiếng về Cổ Nhạc Việt Nam. Tuy trong gia đình có những nhân vật khoa bảng lỗi lạc về âm nhạc như anh ruột giáo sư tiến sĩ âm nhạc Trần Văn Khê, cháu ruột tiến sĩ âm nhạc Trần Quang Hải… Trần Văn Trạch phải nói được nhiều người Việt Nam biết đến hơn cả.   
Ông Trần Văn Trạch có khiếu âm nhạc từ nhỏ, biết nhiều về Cổ Nhạc, thông thạo đàn kìm và tỳ bà, hát Vọng Cổ rất “mùi”, nhưng lại thích Tân Nhạc hơn.   

Sau khi học xong trường Trung Học Mỹ Tho, Trần Văn Trạch bắt đầu với nghề thương mại, lập lò làm chén bán ở Vĩnh Kim nhưng không đuợc khá lắm.

    Năm 1945, ông Trần Văn Trạch bỏ nghề buôn bán, lên Sài Gòn “giang hồ” và tìm cách đi hát cho những phòng trà, vũ trường nhỏ.   
Đến khoảng năm 1947, nghệ sĩ Trần Văn Trạch bắt đầu trình diễn những bài hát hài hước. Những bản nhạc hài hước đầu tiên ông trình bầy là những bản sáng tác bởi nhạc sĩ Lê Thương đã kể ở trên.

    Nhưng về sau, vì nhu cầu trình diễn, ông Trần Văn Trạch đã tự sáng tác ra những bản nhạc hài hước để tự mình trình diễn lấy.   
Bản nhạc Anh Phu Xích Lô là sáng tác đầu tiên của ca nhạc sĩ Trần Văn Trạch:         
Có ai mà muốn đi tới Chợ Lớn         
Có ai mà muốn đi tới Chợ Mới         
Có ai mà muốn đi chóng cho mau tới         
Ê! Tôi xin mời lại đây…


      Những bài hát nổi tiếng ngày đó là Cái Đồng Hồ Tay, Cây Bút Máy, Anh Chàng Thất Nghiệp, Sở Vòi Rồng, Đừng Có Lo, Tôi Đóng Xi-Nê, Ba Chàng Đi Hỏi Vợ, Chiếc Ô-Tô Cũ… Bài nhạc nào của nhạc sĩ Trần Văn Trạch cũng làm người nghe cười… bể bụng. Thí dụ bài Tai Nạn Tê-lê-phôn:         
Từ đâu nạn đưa tới         
Gắn chi cái tê-lê-phôn         
Bởi tôi muốn làm tài khôn         
Khiến tôi muốn thành ra ma         
Không vào Chợ Quán, cũng ra Biên Hòa…


     Tuy vậy, không phải ông Trần Văn Trạch chỉ sáng tác nhạc hài hước.     
Chuyến Xe Lửa Mùng 5, kể chuyện đi thăm mẹ của một anh chàng. Đây là một bản nhạc lúc đầu nghe thấy có vẻ là nhạc hài hước, với những tiếng động của nhà ga, xe lửa… Nhưng đoạn cuối là một khúc thương ca, khi người về đến nhà mới biết mẹ đã qua đời.     
Một bản nhạc có cả hài hước pha lẫn chút triết lý là Khi Người Ta Yêu Nhau:         
Khi người ta yêu nhau         
Yêu trong lúc hai mươi tuổi đầu         
Thì không phải vì tiền đâu         
Nhưng mà chẳng được bao lâu… 
 
Những đoạn giữa nói về các tuổi ba mươi, bốn mươi, năm mươi, sáu mươi và:
          Khi người ta yêu nhau         
Yêu trong lúc bẩy mươi tuổi đầu         
Thì không phải vì tiền đâu         
Nhưng mà chẳng còn bao lâu.   
 
Hai câu “Nhưng mà chẳng được bao lâu” “Nhưng mà chẳng còn bao lâu” nghe có vẻ giống nhau. Nhưng suy nghĩ cho kỹ thấy hai ý nghĩa khác hẳn nhau và cho thấy Trần Văn Trạch là người có đầu óc, biết dùng chữ khá thâm thúy. Cái triết lý giản dị, có thể học được từ bài hát là nếu vì vấn đề tiền mà yêu nhau, thì đó không phải là tình yêu chân thật.

      Một bản nhạc phải nói hầu như ngày xưa người Việt Nam nào cũng phải biết đến, vì được ông hát đi hát lại mỗi tuần khi có xổ số tại rạp Thống Nhất, Sài Gòn và sau này trực tiếp truyền thanh qua đài phát thanh Sài Gòn. Tuần lễ nào người dân nước Việt ở khắp nơi đều nghe thấy tiếng người nghệ sĩ trình bầy bài này qua làn sóng điện. Đó là bài hát Xổ Số Kiến Thiết Quốc Gia, do Trần Văn Trạch viết và hát: 

Kiến thiết quốc gia     
Giúp đồng bào ta         
Xây đắp muôn người         
Được nên cửa nhà
          Tô điểm giang san         
Qua bao lầm than         
Ta thề kiến thiết         
Trong giấc mộng vàng
         Triệu phú đến nơi         
Năm muời đồng thôi         
Mua lấy xe nhà         
Giàu sang mấy hồi
          Kiến thiết quốc gia         
Giúp đồng bào ta         
Ấy là thiên chức         
Của người Việt Nam

          Mua số mau lên         
Xổ số gần đến
Mua số mau lên         
Xổ số… gần… đến..
.

     Một bản nhạc khác Trần Văn Trạch sáng tác không hài hước một chút nào cả là bản nhạc hùng mạnh Chiến Xa Việt Nam, bài được hát đi hát lại trong những dịp đài phát thanh cần chạy nhạc hùng như Ngày Quân Lực, Ngày Quốc Khánh… hay khi có… đảo chánh.

Tình ca Trần Văn Trạch chỉ thấy rất ít như Đêm Khuya Trên Đường Catina:
Trời khuya trên khắp bên đường Catinat
Người đi còn năm ba khách không nhà
Ngàn mây sao chiếu trên trời đầy mơ
Hàng cây lặng im nghe gió ru trong mơ…

     Ca sĩ Trần Văn Trạch cũng có hát những nhạc không hài hước và hát thật hay. Một thí dụ điển hình là bản Chiều Mưa Biên Giới của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông đã nổi tiếng sau khi chính do Trần Văn Trạch hát rất điêu luyện, với phần nhạc đệm từ một băng nhạc thu sẵn, của một ban nhạc bên Pháp. Lúc đó vào khoảng thập niên 1960, phương pháp trình diễn này coi như rất mới. Từ đây, đã phát sinh ra những loại hát có nhạc đệm sẵn (karaoké). Những bài tình ca của các nhạc sĩ khác ông hát cũng hay như Dạ Khúc (Nguyễn Mỹ Ca-Hoàng Mai Lưu).

      Ngoài sáng tác nhạc, hát ông còn là trưởng ban nhạc Sầm Giang của đài phát thanh Pháp Á, vào khoảng thập niên 1950. Ban này gồm những ca sĩ nổi tiếng đương thời như Linh Sơn, Tâm Vấn, Minh Diệu, Mạnh Phát, Tôn Thất Niệm…Trần Văn Trạch không chỉ hoạt động trong lãnh vực âm nhạc. Cũng trong thập niên 1950, khi điện ảnh vẫn còn là một môn nghệ thuật phôi thai ở Việt Nam, Trần Văn Trạch đã đóng cùng với nữ nghệ sĩ Kim Cương trong những phim như Lòng Nhân Đạo, Giọt Máu Rơi… và về sau còn làm đạo diễn điện ảnh cho những phim như Thoại Khanh Châu Tuấn (do Kim Cương và Vân Hùng đóng), Trương Chi Mỵ Nương (do Trang Thiên Kim và La Thoại Tân đóng)…

Nhưng có lẽ công trình ông đóng góp nhiều nhất cho nghệ thuật là những buổi Đại Nhạc Hội, với chuyện sáng tác và sự trình diễn những bản nhạc hài hước đã kể trên của ông.
     Danh từ Đại Nhạc Hội chỉ những buổi trình diễn ca nhạc xen kẽ với kịch, ảo thuật… tại các rạp hát do chính ông Trần Văn Trạch đặt ra và từ đó cũng do chính ông đã phát huy chủ trương, bắt đầu từ khoảng năm 1949. Dĩ nhiên một trong những tiết mục quan trọng nhất của những buổi Đại Nhạc Hội này là màn hát nhạc hài hước của chính Trần Văn Trạch.     
Nghe Trần Văn Trạch hát thấy vui và lạ. Ông có biệt tài bắt chước được những âm thanh như tiếng còi tầu xe lửa, tiếng xe hơi chạy, tiếng những cầm thú… Nhưng nếu chỉ nghe không cũng chưa thấy hết cái hay của ông, mà phải nhìn ông trình diễn mới thấy hết được cái linh hoạt của bài hát do ông sáng tác. Giọng hát mộc mạc, đơn giản của người Nam và cách trình diễn hoạt náo những bản nhạc hài hước của chính mình, đã làm nên tên tuổi Trần Văn Trạch, người được dân chúng Việt Nam gọi là Quái Kiệt.     
Với những chương trình Đại Nhạc Hội, Trần Văn Trạch đã trình diễn rất nhiều tại Sài Gòn. Danh tiếng của ông nổi như cồn. Ông đã đi khắp các tỉnh ở miền Nam và trước khi xẩy ra Hiệp Định Genève 1954 chia cắt đất nước, có lần ông ra cả miền Bắc trình diễn.     
Về sau có những người khác theo quan niệm như vậy của ông tổ chức Đại Nhạc Hội cũng rất thành công như nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ, nữ nghệ sĩ Kim Cương…

Sau “Giải Phóng 1975”, Trần Văn Trạch bị kẹt lại Việt Nam và ông cũng vẫn đi lưu diễn thường xuyên cho đến khi qua Pháp năm 1977. Từ đó, ở Paris, ngoài việc mưu sinh hàng ngày, ông cũng vẫn có những hoạt động âm nhạc như băng nhạc và video Hài Hước Trần Văn Trạch, trình diễn nhạc ở Pháp hay ở Úc, Hoa Kỳ… và hoạt động xã hội nhất là trong những buổi hát giúp quyên tiền cho những con tầu về lại biển Đông vớt người Việt tỵ nạn vượt biển.

Năm 1994, nghệ sĩ Trần Văn Trạch qua đời tại Paris, vì bệnh ung thư gan. Nhớ lại hình ảnh ngày xưa của người nghệ sĩ quá cố, có dáng dấp giang hồ với mái tóc dài và phong trần, lái chiếc xe mui trần cũ kỹ và bụi bậm, đang thân thiện hiền hòa vẫy chào mọi người ở đường phố Sài Gòn, phải công nhận một điều: ca nhạc sĩ Trần Văn Trạch, người có một không hai trong lịch sử âm nhạc Việt Nam, quả là một Quái Kiệt tài hoa, trong tâm tưởng của mọi người dân Việt mãi mãi… 

Phạm Anh Dũng
Tháng 9, năm 2000
Santa Maria, California, USA

HOÀNG TRỌNG (1922-1998) / Phạm Anh Dũng

Tên thật là Hoàng Trung Trọng, nhạc sĩ Hoàng Trọng sinh năm 1922 tại Hải Dương, Bắc Việt. Năm 1927, ông theo bố mẹ đến sống ở Nam Định.

Năm 1933, ông đã bắt đầu được học nhạc qua người anh ruột Hoàng Trung Quý. Từ năm 1937, Hoàng Trọng học nhạc tại trường Thày Dòng Saint Thomas Nam Định. Đến năm 1941, ông tiếp tục nghiên cứu âm nhạc qua sách vở và học hàm thụ từ Universelle de Paris.

Ngoài chuyện có khiếu về âm nhạc, từ thuở thiếu niên, Hoàng Trọng còn có khả năng tập họp, tổ chức ban ca nhạc. Đến năm 15 tuổi, ông đã tập họp các anh em trong gia đình như Hoàng Trung An và Hoàng Trung Vinh, các bạn như Đan Thọ, Đặng Thế Phong, Bùi Công Kỳ… thành một ban nhạc. Thuở ban đầu, ban nhạc không có tên, chỉ để giải trí và cũng để trình diễn giúp việc nghĩa. Nhưng đến năm 1945, khi Hoàng Trọng mở phòng trà Thiên Thai ở Nam Định, ban nhạc trình diễn mỗi tối ở đó và vì vậy lấy tên là ban nhạc Thiên Thai. Phòng trà và ban nhạc của Hoàng Trọng hoạt động đến khi chiến tranh Việt Pháp bùng nổ năm 1946. Thời gian ở Nam Định, ông cũng có mở một lớp dậy đàn, vào năm 1940.

Chỉ một thời gian ngắn sau khi những nhạc sĩ đàn anh như Dương Thiệu Tước, Lê Thương, Nguyễn Văn Tuyên, Nguyễn Xuân Khoát… phổ biến những bài hát tiên phong của Tân Nhạc Việt Nam, Hoàng Trọng đã sáng tác bản nhạc Đêm Trăng năm 1938 khi ông vừa 16 tuổi.

Vì chiến tranh ông di chuyển khỏi Nam Định, qua Phủ Nho Quan, Phát Diệm và cuối cùng định cư tại Hà Nội năm 1947. Chính thời điểm này ông đã viết ra Phút Chia Ly, một nhạc phẩm Tango bất diệt, lời do Nguyễn Túc đặt:

Lòng tê tái vương nhớ nhung
Người chinh phu với sầu đông
Thuyền không bến lắng trôi tới đâu
Đưa đón ai xa ngừng bến nào
Thầm reo rắc chi sầu nhớ.

Phải nói không nhạc sĩ Việt Nam nào viết Tango nhiều và viết Tango hay như Hoàng Trọng, do đó về sau này ông đã mệnh danh là “Vua Tango” qua những tác phẩm Tiếng Đàn Ai, Thu Qua, Cánh Hoa Xưa, Bên Sông Đưa Người, Lá Rụng, Mộng Ngày Hồi Hương, Thương Về Quê Cha, Tình Trăng, Bóng Trăng Xưa, Hương Yêu… và nhiều bản nổi tiếng như Phút Chia Ly, Mộng Ban Đầu, Mộng Lành, Đường Về, Đẹp Giấc Mơ Hoa, Tiễn Bước Sang Ngang, Em Còn Nhớ Không Em, Ngỡ Ngàng, Nhớ Hoài, Bắc Một Nhịp Cầu…

Những ngày hồi cư về Hà Nội, Hoàng Trọng đã liên lạc được với những nghệ sĩ của đài phát thanh như Mộc Lan, Minh Diệu, Mạnh Phát, Châu Kỳ… và do đó tác phẩm của Hoàng Trọng bắt đầu được phổ biến.

Cũng thời gian ở Hà Nội, ông đã viết và được nhà xuất bản Thế Giới ấn hành quyển Tự Học Hạ Uy Cầm do ông biên soạn theo kinh nghiệm dậy đàn trước kia.

Năm 1950, nhạc sĩ Hoàng Trọng gia nhập quân đội và là trưởng ban Quân Nhạc Bảo Chính Đoàn trình diễn mỗi tuần tại một vườn hoa cạnh Bưu Điện Hà Nội và trong chương trình Tiếng Nói Bảo Chính Đoàn của đài phát thanh Hà Nội. Khoảng thời gian này ông viết nhiều bài hát trong đó có Gió Mùa Xuân Tới, điệu Rumba:

Gió mùa xuân tới
Cánh đồng tươi thắm trong nắng vàng
Muôn bướm tung bay
Mang sắc tươi phô cùng trời sáng…


Ngoài Gió Mùa Xuân Tới, những bài hát Rumba hay những điệu khác như Bolero, Samba… về sau Hoàng Trọng sáng tác thêm là Nhớ Thương, Đường Về Dĩ Vãng, Thôi Đừng Lưu Luyến, Say Say Say, Vui Cảnh Mùa Hè, Trăng Lên, Nhịp Võng Ngày Xanh, Hương Đời Đẹp Tươi…

Năm 1953, tên tuổi ông nổi bật từ bản Nhạc Sầu Tương Tư, điệu Slow hầu như được trình diễn mỗi ngày trên các đài phát thanh:

Chiều rơi cho lòng lạc loài chơi vơi
Ngày rơi ai buồn giây phút qua rồi
Thời gian luống phụ cho ai mãi đâu
Luống hận cho ai mãi đâu
Muôn kiếp u sầu…


Nhạc về nhịp điệu Slow được ông viết nhiều. Trước Nhạc Sầu Tương Tư, có Buồn Nhớ Quê Hương (được giải thưởng Âm Nhạc Bắc Việt 1952). Về sau Hoàng Trọng có thêm những bản hay như Bên Bờ Đại Dương, Tiếng Lòng, Nhớ Về Đà Lạt, Khóc Biệt Kinh Kỳ, Mộng Đẹp Ngày xanh…

Trong số những bản nhạc Hoàng Trọng sáng tác năm 1953 có Dừng Bước Giang Hồ, bản nhạc Pasodoble nổi tiếng như sau:

Chiều nay sương gió
Lữ khách dừng bên quán xiêu
Mơ màng nghe tiếng chuông chiều
Vương về bên quán tiêu điều
Vầng trăng hoen úa
Như lá vàng rơi cuối thu
Lững lờ soi mấy hàng cây
U sầu ta ngắm trời mây…

Những bản nhạc thuộc loại nhóm có nhịp điệu như Pasodoble, Fox và March của Hoàng Trọng có thể kể thêm là Chiều Về Thôn Xưa, Khúc Hát Mùa Chiêm, Hồn Thanh Niên…

Năm 1954, ông di cư vào Nam, chỉ một hai năm sau Hoàng Trọng đã sáng tác rất mạnh và có những ca khúc rất phổ thông.

Bản Ngàn Thu Áo Tím hay cả lời lẫn nhạc, do Vĩnh Phúc viết lời thật hay, là một thành công nhất trong những bản nhạc valse của ông, như sau:

Ngày xưa xa xôi em rất yêu mầu tím
Ngày xưa vô tư em sống trong trìu mến
Chiều xuống áo tím thường thướt tha
Bước trên đường thắm hoa
Ngắm mây chiều lướt xa..
.

Những bản luân vũ khác của Hoàng Trọng đã viết có thể kể Chiều Mưa Nhớ Bắc, Khúc Ca Mầu Xanh, Bạn Lòng, Lạnh Lùng…

Trong tổng số khoảng 200 bản nhạc, khá nhiều là nhạc tình yêu và quê hương do Hoàng Trọng sáng tác, ông chỉ đặt lời lấy cho độ 40 bản, còn lại ông để cho nhiều người khác viết lời cho những bài hát. Đó là Hồ Đình Phương, Hoàng Dương, Nguyễn Túc, Quách Đàm, Vĩnh Phúc…

Nhạc sĩ Hoàng Trọng viết nhạc cho rất nhiều phim Việt Nam kể cả những phim có tiếng như Xin Nhận Nơi Này Làm Quê Hương, Giã Từ Bóng Tối, Người Tình Không Chân Dung, Sau Giờ Giới Nghiêm, Bão Tình… Riêng nhạc của cuộn phim Triệu Phú Bất Đắc Dĩ, Hoàng Trọng đã được giải thưởng Văn Học Nghệ Thuật trong năm 1972-1973.

Sau năm 1954, định cư ở miền Nam, Hoàng Trọng bắt đầu thành lập những ban nhạc trình diễn trên đài phát thanh Sài Gòn, đài Quân Đội, đài Tiếng Nói Tự Do và đài Truyền Hình Việt Nam. Những ban nhạc của ông hoạt động đến mãi 1975, có nhiều tên khác nhau như Hoàng Trọng, Tây Hồ, Đất Nước Mến Yêu… và nhất là từ năm 1967 Tiếng Tơ Đồng, ban nhạc đại hợp xướng trình bầy toàn là những nhạc phẩm đa số là nhạc tiền chiến có giá trị, với thành phần ca nhạc sĩ hùng hậu và tên tuổi của miền Nam Việt. Năm này qua năm khác, trước 1975, những ban nhạc này đã góp phần lớn lao vào đời sống tinh thần của người dân Việt.

Sau 1975, ông chỉ sáng tác có vài ba bản nhạc và không được phổ biến nhiều. Bản cuối cùng của Hoàng Trọng là Chiều Rơi Đó Em.

Năm 1992, Hoàng Trọng qua định cư tại Hoa Kỳ và ông đã qua đời năm 1998.

Nhạc sĩ Hoàng Trọng, “Vua Tango”, có một chỗ đứng cao quý trong Tân Nhạc Việt Nam.

Phạm Anh Dũng
Santa Maria, California, U.S.A.

==========

Nhạc phẩm: Ngàn Thu Áo Tím
Sáng tác: Hoàng Trọng – Lời: Vĩnh Phúc
Tiếng hát: Thái Thanh Pre 1975
Album: Nhạc Tuyển Selection – Tiếng Hát Thái Thanh (Pre 75)

1. Ngày xưa xa xôi em rất yêu màu tím
Ngày xưa vô tư em sống trong trìu mến
Chiều xuống áo tím thường thướt tha
Bước trên đường gấm hoa
Ngắm mây chiều lướt xa.

Từ khi yêu anh anh bắt xa màu tím
Sầu thương cho em mơ ước chưa kịp đến
Trời đã rét mướt cùng gió mưa
Khóc anh chiều tiễn đưa
Thế thôi tàn giấc mơ.

[ĐK:]

Anh xa xôi bóng mưa giăng mờ lối
Anh xa xôi áo bay trong chiều rơi
Anh xa xôi áo ôm tim lẻ loi
Tím lên khung trời nhớ nhung đầy vơi.

Mưa rơi rơi bóng anh như làn khói
Mưa rơi rơi bóng anh xa ngàn khơi
Mưa rơi rơi có hay chăng lòng tôi
Có hay bao giờ bóng người yêu tới.

2. Từ khi xa anh em vẫn yêu và nhớ
Mà sao anh đi đi mãi không về nữa
Một bóng áo tím buồn ngẩn ngơ
Bước trong chiều gió mưa
Khóc thương hình bóng xưa.

* Ngàn thu mưa rơi trên áo em màu tím
Ngàn thu đau thương vương áo em màu tím
Nhuộm tím những chuỗi ngày vắng nhau
Tháng năm còn lướt mau
Biết bao giờ thấy nhau. ♫

ÁNH ĐÈN MẦU / Phạm Anh Dũng

Đời ca hát ngày tháng cho người mua vui
Đời son phấn làm mất bao ngày thơ ngây…

Trên đây là hai câu đầu tiên trong bài hát Ánh Đèn Mầu, lời Việt đặt theo nhạc phẩm nổi tiếng của Vua Hề Charlot, Charlie Chaplin.
Vài hàng về Vua Hề Charlot, người nổi danh khắp thế giới về những phim câm hài hước. Charles Spencer Chaplin (1889-1977) sinh trưởng trong nghèo đói tại Anh Quốc, nối nghiệp bố mẹ làm người hát dạo, rồi sau dần trở thành diễn viên hài hước. Nhân qua thăm Hoa Kỳ năm 1913, ông được mời đóng phim và về sau vừa là tài tử chính cũng tự trở thành đạo diễn những tác phẩm điện ảnh, nhất là những phim hài hước và câm. Những phim nổi tiếng của Vua Hề Charlot là A Woman of Paris (1923), The Gold Rush (1925), The Circus (1928), City Lights (1931), Modern Times (1936) và The Great Dictator (1940). Limelight (1952) là phim cuối cùng Charlot thực hiện tại Hoa Kỳ.
Vì có nhiều chuyện lộn xộn trong đời sống riêng tư về ái tình và hôn nhân, ông bị nhiều người ghét. Với chủ trương công bằng xã hội, lại thêm chuyện không chịu nhập quốc tịch Hoa Kỳ, ông bị “chụp mũ” là … Cộng Sản và không được phép nhập cảnh vào Hoa Kỳ nữa. Vì vậy, từ 1953, Charlie Chaplin sinh sống tại Switzerland.
Đến mãi 20 năm sau, Charlie Chaplin trở về Hoa Kỳ để nhận những vinh quang lớn nhất của sự nghiệp điện ảnh. Năm 1972, ông được trao giải thưởng đặc biệt của Academy of Motion Picture Arts and Sciences. Năm 1973, phim Limelight đã được trao giải Oscar (Academy Award). Năm 1975, ông được Nữ Hoàng Anh phong tước Hiệp Sĩ (Knight). Vua Hề Charlot qua đời năm 1977.

Vài nét về tác phẩm điện ảnh Limelight.
Đây không phải là phim câm và cũng không phải là phim hài hước hoàn toàn. Limelight là phim có tiếng nói nổi tiếng nhất của Charlie Chaplin. Limelight là một phim rất cảm động và buồn. Trong phim, Charlie Chaplin đóng vai một ca sĩ hài hước về … chiều, thất bại vì tài năng đã đến lúc tàn tạ. Người nghệ sĩ đã diễu… dở, nghĩa là không còn làm khán giả cười được nữa. Nhưng người ca sĩ già đã cứu sống một nữ diễn viên chuyên vũ ballet. Cô vũ nữ trẻ này cũng vì thất bại đã nản chán và tự tử. Và cũng nhờ ông hướng dẫn, cô gái cuối cùng đã thành công rực rỡ trên sân khấu.

Về Ánh Đèn Mầu.
Có vài lầm lẫn cần minh xác.
Thứ nhất limelight không có nghĩa là ánh đèn mầu. Limelight thật ra là ánh sáng của ngọn đèn tròn trắng sáng, tuy có thể nhìn thấy một chút sắc xanh trong rất nhạt, ngày xưa người ta thường hay dùng để chiếu lên sân khấu và ngày nay tuy cũng còn dùng nhưng ít hơn trước.
Nhiều người tưởng tên Anh Văn nguyên thủy của bài hát Ánh Đèn Mầu là Limelight. Thật ra, tuy là bài hát chính trong phim Limelight, nhưng tên nhạc phẩm này, do Charlie Chaplin sáng tác, là Eternally (dịch sát nghĩa là Vĩnh Viễn hay Mãi Mãi).

Về các nhân vật đặt lời Việt cho bài nhạc.
Nhiều người tưởng lời Việt của bài hát do nhạc sĩ Phạm Duy đặt đầu tiên. Tuy Phạm Duy mãi về sau này có đặt lời cho bài hát với tựa đề Ánh Đèn Sân Khấu, nhưng thật ra Nguyễn Xuân Mỹ là người đầu tiên đặt lời Việt cho bài hát và có tên Ánh Đèn Mầu. Trước Phạm Duy và sau Nguyễn Xuân Mỹ còn có Nguyễn Huy Hiển và Anh Hoa cũng có đặt lời Việt cho bản nhạc. Bài của Anh Hoa có tựa là Tình Tôi. Chắc chắn còn có ít ra là vài người khác nữa cũng có đặt lời Việt cho bản nhạc.


ÁNH ĐÈN MẦU
(Eternally)

nhạc: Charlie Chaplin
lời Việt: Nguyễn Xuân Mỹ

3/4 Boston
Sol Trưởng

I’ll be loving you eternally
with a love that true eternally
From the start with-in my heart, it seems I’ve always know
the sun would shine, when you were mine a-lone
I’ll be loving you eternally
There’ll be no one new, my dear for me
Tho’ the sky should fall, remember I shall always be
Forever true and loving you eternally

Đời ca hát ngày tháng cho người mua vui
Đời son phấn làm mất bao ngày thơ ngây
Cùng bên ánh mầu sắc lạc lõng trong tiếng đàn hát đêm khuya
Rồi bao nếp răn về với tháng năm đời quên lãng rồi
Buồn trong tiếng nhạc lắng cho đời mê say
Cười trong ánh đèn sáng cho người mua vui
Rồi khi ánh đèn tắt lặng lẽ cô đơn
chìm theo bóng đen, người ta lãng quên bẽ bàng

Sol Thứ (đoạn này không thấy có lời Anh):
Giờ đây vắng tan rồi
Khách ra về
Ôi ánh đèn
Nhìn cảnh vắng hoang tàn kiếp con ve khi cuối mùa
Nào đâu phút huy hoàng
Phút say sưa theo tiếng đàn vui ca


TÀI LIỆU THAM KHẢO:

  1. Ánh Đèn Mầu (Eternally): nhạc Charlie Chaplin, lời Việt Nguyễn Xuân Mỹ
    G.P. số 3453/BTTCH/BC3/XB
  2. Limelight, Charlie Chaplin Centennial Collection, CBS-Fox VHS Video
  3. Chaplin, directed by Richard Attenborough, Avid Home Entertainment VHS Video
  4. The Software Toolworks, Multimedia Encyclopedia, Version 1 PB

    Phạm Anh Dũng
    Santa Maria, California USA

MÙA THU ĐOÀN CHUẨN-TỪ LINH

(viết cuối mùa Thu 2001, khi được tin Đoàn Chuẩn qua đời)

Từ Linh & Đoàn Chuẩn


Em yêu dấu! Chưa gặp em, từ lâu anh vẫn nghĩ nhiều về một mùa Thu chưa đến bao giờ. Anh vẫn mơ về một mùa Thu thật quyến rũ, mùa Thu có bầu trời ngả màu sắc xanh lơ với những đóa hoa hồng xinh xinh. Anh tưởng tượng được hình ảnh của một chốn Thiên Thai huyền ảo. Anh đã mong ngày nào đó mùa Thu anh chờ đợi sẽ đến với một tà áo xanh tha thướt. Mùa Thu sẽ tìm đến như trong mơ hồ. Và, anh đã chợt thấy em về trong giấc mơ mùa Thu với sương mù, với gió heo may lành lạnh làm rụng lá vàng xao xác. Anh nhìn lên cao và thấy hình ảnh choáng váng của những hàng mây trắng chập chùng:
“Anh mong chờ mùa Thu Trời đất kia ngả màu xanh lơ Đàn bướm kia đùa vui trên muôn hoa Bên những bông hồng đẹp xinh…” (Thu Quyến Rũ)
Lê Dung hát Thu Quyến Rũ: https://www.youtube.com/watch?v=dVUVyLAE1Kg

Em yêu dấu! Ngay khi chưa gặp gỡ, anh đã biết anh gặp và yêu em đã từ lâu. Tại sao chưa thấy nhau bao giờ mà có cảm giác đã gặp và yêu từ trước? Làm sao có thể giải thích được em nhỉ! Đôi khi, chỉ đôi khi thôi, anh muốn hỏi Chúa, hỏi Phật lý do nhưng không biết làm cách nào để hỏi. Và dù cho nếu mà hỏi được, chắc câu trả lời cũng sẽ gần như chỉ là một câu hỏi ngược lại: Làm gì có sự giải thích trong tình yêu? Thật ra cũng chẳng cần giải thích. Với lý luận giản dị của anh, em là cánh hoa duyên kiếp đã đến với anh từ một tiền kiếp xa xưa:
“…Đêm hôm nay chợt nhớ tới nơi xa Lúc anh về nhặt mấy cánh hoa Kèm vào thư, lá thư xanh mầu Yêu cánh hoa duyên kiếp này Tìm em trong ý Thu…” (Cánh Hoa Duyên Kiếp)
Khánh Ly hát Cánh Hoa Duyên Kiếp: https://www.youtube.com/watch?v=Ie5iIY4eePc

Em yêu dấu! Rồi chúng ta cuối cùng cũng gặp nhau. Anh cứ nghĩ mãi về lần đầu tiên chúng ta gặp gỡ buổi chiều Thu hôm ấy. Không hiểu sao, ngay từ lúc gặp em lần đầu, anh đã yêu hình dáng ngập ngừng của người em gái với đôi quầng mắt đậm màu. Em từ đâu đến? Tại sao gặp nhau lần đầu mà chúng ta đã có những duyên tình cũ? Tình yêu nồng nàn nghệ sĩ đẹp như giấc mộng chiều Thu chan hòa nắng ấm chắc đã được xếp đặt từ kiếp trước. Nhưng, hình như ngay từ những ngày đầu gặp gỡ, anh đã cảm được phút cuối khi chúng ta phải xa nhau:
“Đây khách ly hương mấy thu vàng ấm Nơi quán cô đơn mơ qua trùng sóng Mơ tới bên em em tô quầng mắt Em tôi ngập ngừng trong tấm áo nhung… …Mối tình nghệ sĩ như giấc mơ Chóng tàn vì vướng muôn ý thơ…” (Tình Nghệ Sĩ)
Ngọc Bảo hát Tình Ngệ Sĩ: https://www.youtube.com/watch?v=VvpMs9vMYVg

Em yêu dấu! Anh chỉ biết là định mệnh đã xếp đặt cho chúng ta gặp nhau, và cũng định mệnh đã ngang trái xếp đặt phút chia ly cho cuộc tình ngắn ngủi của đôi mình. Chúng ta đã gặp nhau vào lúc mùa Thu, một mùa Thu bàng bạc gió cuốn lá rơi ngập hồn người. Ta đã thương nhau thật sự, sưởi ấm cho nhau khi mùa Đông đến. Mùa Xuân, chúng ta nồng nàn yêu nhau với đúng ngôn ngữ yêu của tình yêu. Thế rồi, cuộc tình chợt xa vắng, lặng lẽ khi mùa Xuân qua đi:
“… Mộng nữa cũng là không Ta quen nhau mùa Thu Ta thương nhau mùa Đông Ta yêu nhau mùa Xuân Để rồi tàn theo mùa Xuân Người về lặng lẽ sao đành…” (Tà Áo Xanh/Dang Dở)
Quang Tuấn hát Tà Áo Xanh: https://www.youtube.com/watch?v=e-NSOw2l5EQ

Em yêu dấu! Rồi em đã ra đi! Rồi em đã ra đi trong một chiều Thu gió lộng làm cây đổ lá, khi con chim nhỏ bé buồn rầu không còn cất tiếng hót nữa. Rồi em đã ra đi khi những giọt mưa Thu rơi như giọt nước mắt khóc cho cuộc tình muộn màng. Những giọt lệ sầu thu héo hắt nhỏ xuống một dòng sông lạnh vắng lặng lẽ cuốn trôi theo những chiếc lá vàng tàn tạ. Anh biết em đi sẽ không bao giờ trở lại. Mùa Thu của chúng ta sẽ mãi mãi là mùa của Mưa Ngâu:
“…Thôi thế từ đây Anh cố đành quên rằng có người Cầm bằng như không biết mà thôi Lá thư còn lại đôi ba cánh Đành lòng cho nước cuốn hoa trôi…” (Lá Đổ Muôn Chiều)
Vũ Khanh hát Lá Đổ Muôn Chiều: https://www.youtube.com/watch?v=0RVHm-U8CPQ

Em yêu dấu! Lá thư đầy hương vị tình yêu anh vẫn còn giữ mãi đến gần đâỵ Dù với dòng thời gian, màu thư có héo úa như màu chiếc lá vàng mùa Thu rơi trước ngõ, lá thư phai mực đó vẫn là chứng tích của cuộc tình chúng ta. Cho đến một ngày nào đó. Rồi một chiều Thu nào đó, anh trở về chốn cũ và nhớ lại hình dáng năm xưạ Chỗ hò hẹn cũ vẫn không có gì thay đổị Nước vẫn chảy qua cầu, nhưng không còn bóng người xõa tóc. Mối tình nghệ sĩ có phai, lá thư anh đã đốt nhưng anh biết linh hồn của lá thư sẽ còn sống mãi, suốt đời, trong đáy quả tim hiu hắt của anh:
“…Anh quay về đây đốt tờ thư Quên đi niềm ân ái ngàn xưa Ái ân theo tháng năm tàn Ái ân theo tháng năm vàng Tình người nghệ sĩ phai rồi…” (Lá Thư)
Trần Thái Hòa hát Lá Thư: https://www.youtube.com/watch?v=kV_5iw77Q20

Em yêu dấu! Chúng ta đã biết nhau, gặp nhau, yêu nhau và rồi xa nhau. Tất cả đều là số mệnh cả! Ngậm ngùi, nhưng anh không trách em và anh biết em cũng không trách gì anh. Những người thật sự yêu nhau không bao giờ trách nhau. Anh biết em đi sẽ không bao giờ trở lại:
“…Ai xui ta gặp nhau để tình gây oan trái Để tình anh bẽ bàng và tình em lỡ làng Để mùa Thu lá vàng khóc tình ta…” (Vàng Phai Mấy Lá/Vĩnh Biệt)
Thu Vàng hát Vàng Phai Mấy Lá: https://www.youtube.com/watch?v=kTbDX0n_AOI

Phạm Anh Dũng
Tháng 10, năm 2001
Santa Maria, California USA

CHÚ THÍCH: Thu Quyến Rũ, Cánh Hoa Duyên Kiếp, Tình Nghệ Sĩ, Tà Áo Xanh tức Dang Dở, Lá Đổ Muôn Chiều, Lá Thư và Vàng Phai Mấy Lá tức Vĩnh Biệt là bẩy trong những nhạc phẩm bất diệt về mùa thu của nhạc sĩ Đoàn Chuẩn (1924-2001) và Từ Linh (1928-1987).

CD Đôi Dòng

12 Tình khúc của Hạ Đỏ Bích Phương, Vũ Hạ, Liên Bình Dịnh, Nhất Chí Vũ, Mai Phạm, Cát Tâm, Thi Hạnh, Trần Chương Lương, mdtt, Vy Hạnh Phạm Anh Dũng

Liên lạc email: tranh@orange.fr
In ấn: CD Media
Xuất bản & phát hành: Cội Nguồn
Dàn trang: Trúc Tiên
Tranh bìa: Trúc Tiên (xin click vào hình dưới đây để xem hình và chi tiết lớn rõ hơn)

Bìa ngoài CD

Đôi Dòng đang gửi đến Bạn là những vần thơ điệu nhạc lấp lánh và ngân vang âm sắc yêu thương.
Hãy lắng nghe, hoài niệm, chiêm ngưỡng và đón nhận những khát vọng từ gió núi bay tìm nguồn suối quê hương… đang len lỏi vào ngõ ngách của trái tim đam mê nghệ thuật.  

Đôi Dòng là cánh cửa muôn màu mở ra giới thiệu những hồn Thơ tĩnh lặng được hoá thân và tung bay ngàn tình Nhạc vọng ngân… muốn phiêu lưu vào cõi nhân gian để mong tìm những tâm hồn đồng điệu.

Đôi Dòng bao gồm sự kết hợp nội tâm của 23 tác giả Thơ Nhạc. Đồng thời, còn có các nhạc sĩ hoà âm và ca sĩ cũng cùng nhau nâng cao ý thơ dòng nhạc lên những cung bậc tuyệt vời… Xin trân trọng gửi đến Bạn lời Cảm Ơn trái tim đồng cảm,
dịu dàng lắng đọng, và nhắm mắt mở lòng… thưởng thức Đôi Dòn
g…

Bìa trong CD

XEM/NGHE VIDEO VÀI BẢN NHẠC TRONG CD

NỤ QUỲNH RƯỚM MÁU (thơ Đông Quỳnh, nhạc Phạm Anh Dũng) Ý Lan hát tặng, Đồng Sơn hòa âm, Tống Phước Cường thực hiện video
VỀ HÀ NỘI ĐI ANH (thơ Hương Hoàng, nhạc Ngọc Tiến) Tuyết Mai hát, Quang Đạt hòa âm
PHẢI LÒNG (thơ Song Châu Diễm Ngọc Nhân, nhạc Trần Chương Lương), Tâm Thư hát, Võ Công Điền hòa âm