Đời Ca Hát (Lê Bảo-Phạm Anh Dũng) Mạnh Tuấn, Quang Đạt

ĐỜI CA HÁT (thơ Lê Bảo, nhạc Phạm Anh Dũng) Mạnh Tuấn hát, Quang Đạt hòa âm, Lê Bảo video:

https://youtu.be/X6Cx6OvpKuk

Tôi thích và có viết một bài về tác phẩm Ánh Đèn Màu (Charlie Chaplin & Nguyễn Xuân Mỹ) 
https://thanhthuy.me/2014/02/12/anh-den-mau-pham-anh-dung/

Nhạc Việt Nam có những bài về đời ca sĩ nổi tiếng như Kiếp Cầm Ca (Huỳnh Anh), Phận Tơ Tằm (Minh Kỳ), Tình Đời (Minh Kỳ & Vũ Chương), Đêm Nay Ai Đưa Em Về (Nhật Ngân), Ai Nói Yêu Em Đêm Nay (Trần Thiện Thanh) và Một Đời Tôi Hát (Thanh Trang). 
Nhưng tôi vẫn nghĩ nếu bài hát với ý như vậy viết theo nhạc Blues thì sẽ diễn tả được tâm sự của người nghệ sĩ hơn. Nhân gặp bài thơ của Lê Bảo với nội dung tương tự, tôi viết thành nhạc Blues.
Lê Bảo là một ca nhạc sĩ trẻ tài hoa ở Nha Trang tôi quen qua “net” và chưa gặp bao giờ. Anh có hát vài bản nhạc của tôi:
https://www.youtube.com/playlist?list=PL0FJzQa1Qa89sUjpmuKIG3e8yeoeM6-ZG

Đời Ca Hát 

(thơ Lê Bảo, nhạc Phạm Anh Dũng) 

Đời tôi có gì vui ?
Chỉ là một kiếp người 
Mang lời ca tiếng hát 
Dưới ánh đèn màu soi 

Đời tôi có gì vui ?
Khóc cười, cười với đời 
Lối mòn trăng chiếc bóng 
Ru tình buồn đơn côi 

Xin dâng cho cuộc đời 
Những tình ca một thời 
Kiếp cầm ca người hỡi 
Mong đời được yên vui. 

Bao đêm tôi đưa người 
Những đóa hoa tuyệt vời 
Mà đời tôi không vui 
Đời tôi có gì vui
!


Lê Bảo

Dòng Sông Đứng Lại (Mộng Thủy) / Giao Cảm Tuyệt Vời (Nguyên Đỗ)

DÒNG SÔNG ĐỨNG LẠI

(thơ Trần Mộng Tú, nhạc Phạm Anh Dũng)
Mộng Thủy hát, Quốc Vũ hòa âm và piano
Hoàng Khai Nhan video:

GIAO CẢM TUYỆT VỜI

Nguyên Đỗ

Chưa bao giờ sự giao cảm giữa nhà thơ, nhạc sĩ, ca sĩ và người nghe, người đọc được nhanh chóng thần tốc như thời đại của kỹ thuật mạng lưới thông tin. Một bài thơ có thể được sáng tác theo rung cảm của thi sĩ vừa được đăng trên diễn đàn các mạng lưới, thì lập tức nếu được sư. giao cảm của một nhạc sĩ nào đó, bài thơ sẽ được nâng thêm một cấp nữa khi được phổ thành một nhạc khúc hay, rồi lại được ca sĩ với một giọng ca truyền cảm chuyển trao cho bạn hữu, giới yêu nhạc ở khắp nơi. Với ba phương tiện truyền thông khác nhau do ba nghệ sĩ chân chính là thi sĩ, nhạc sĩ, ca sĩ truyền đạt thì âm hưởng của một bài thơ, một bài nhạc, một bài hát sẽ ngân vang và gây xúc động thật nhiều trong lòng độc giả và thính giả qua các mạng lưới. Chúng ta có thể nói một cách hình tượng là bài thơ, bản nhạc, bài hát là những ngọn sóng liên tục từ đại dương bao la dồn dập đập vào bờ tâm hồn của chúng ta.

Sự giao cảm giữa thơ và nhạc, giữa nhạc và giọng hát, giữa bài hát và thính giả đã có từ lâu, nhưng tốc độ nhanh chóng thì chưa bao giờ được thể hiện như lúc này. Sự giao cảm đó là yếu tố quyết định cho sự âm vang của một tác phẩm. Tình thân hữu giữa bạn bè, cũng như tài năng của nhạc sĩ, ca sĩ đóng góp không nhỏ trong việc tạo nên tiếng tăm của một nhà thơ bởi sự giao cảm nói theo kiểu nhà Nho, “Đồng thanh tương ứng đồng khí tương cầu” Tâm hồn của thi, văn, nhạc, ca sĩ có thể rung một điệu và âm hưởng đó có tầm quát bao la.

Không ít người không biết tới câu chuyện Hải Khùng phát thơ có tầm năng thành giai thoại văn chương lý thú cho nhiều thế hệ mai sau. Hải Khùng là biệt danh của Nguyễn Hoàng Hải (1952-1992) trước khi ông trở thành nhà thơ nổi tiếng với bút danh Nguyễn Tất Nhiên. Theo nhà thơ Thái Thụy Vy (người cùng quê với ông ở Biên Hoà) “hồi chưa nổi tiếng, trời nắng chang chang mà anh ưa mặc cái manteau mua ở khu Dân sinh, mồ hôi nhễ nhại, ưa đạp xe đạp đi cua cô em Bắc Kỳ nho nhỏ tên Duyên; anh nhỏ hơn tôi đúng một con giáp, tuổi Thìn; anh thường làm thơ in ronéo đi phát không cho nữ sinh, họ đều quăng vào thùng rác, đến lúc Vĩnh Phúc và Nguyễn Xuân Hoàng dạy trường Ngô Quyền gửi đăng ở tạp chí Sáng Tạo của Mai Thảo, được Phạm Duy và Nguyễn Đức Quang phổ các bản “Thà như giọt mưa vỡ trên tượng đá”, “Trúc đào”, “Vì tôi là linh mục”,” Em hiền như ma soeur”, “Cô em Bắc kỳ nho nhỏ”, “Hai năm tình lận đận” thì nữ sinh ùn ùn kiếm mua thơ anh.” (1) Giai thoại này nói lên sự giao cảm giữa bạn bè, giữa những bài thơ và các nhạc sĩ để rồi ảnh hưởng mạnh mẽ tới giới người đọc, người nghe đã không chỉ còn là người đọc, người nghe bình thường mà đã trở thành giới thưởng thức với thính quan âm nhạc đưa thơ trở về với ý nghĩa thuần tuý thi ca, không phải là thơ chỉ để đọc mà thôi, mà thơ còn để nghe với tính cách diễn ngâm, với tính cách âm nhạc, với tính cách thưởng thức.

Có thể nói sẽ không có nhiều người biết tới nhà thơ Vũ Hữu Định (1942-1981), mặc dù ông làm thơ rất nhiều trong nhóm sinh hoạt Văn Học Nghệ Thuật Quảng Đà, nếu bài thơ “Còn Một Chút Gì Để Nhớ” không được nhạc sĩ Phạm Duy phô thành một bài nhạc hay và không có tiếng hát tuyệt vời của ca sĩ Thái Thanh truyền đạt. Nhà thơ Luân Hoán, cũng cùng trong nhóm VHNT Quảng Đà, viết rằng: “Nhưng đợi đến khi Phạm Duy phổ nhạc bài thơ “Còn Một Chút Gì Để Nhớ” và qua tiếng hát vượt thời gian của Thái Thanh, mới thực sư. chắp đôi cánh tuyệt vời cho ý thơ anh bay bổng, và chính tôi cũng yêu thích bài thơ của anh từ đó. Anh đã có công đưa thành phố núi cao đầy sương và bụi mù đó vào trong trái tim của mọi người.” Bao nhiêu người đã hay đang sống và nhiều thế hệ mai sau sinh trưởng tại Pleiku cũng như những người Việt Nam ở các nơi khác sẽ thiếu thốn rất nhiều và không thấy hết nét thơ mộng của thị xã này nếu không biết tới bài thơ phổ nhạc của Vũ Hữu Định / Phạm Duy. Sự rung cảm của nhà thơ Vũ Hữu Định đã cho tôi thấy nhiều khía cạnh đặc biệt của Pleiku, dù một hai chi tiết là sai sư. thật, nhưng tất cả mọi sự trên đời là tương đối, và ngôn ngữ của nhà thơ là ngôn ngữ chọn lọc đã được đưa qua cảm xúc riêng tư của thi sĩ. Người ta vẫn có thể chấp nhận cảm quan của nhà thơ khi ông viết “Ở đây buổi chiều quanh năm mùa đông” ngay cả trong những buổi chiều hè oi bức với tiếng ve kêu trên cành phượng đỏ khu trường Minh Đức, Bồ Đề, hay Nữ Trung Học Pleime… Lý do đơn giản là lời thơ, điệu nhạc thấm tận vào hồn của người nghe diễn tả tâm trạng của một người khách lạ trên một phố núi heo hút miền cao… Sự giao cảm rung động đó là một kết hợp hài hoà giữa thơ, nhạc, ca của nhà thơ, của nhạc sĩ và tiếng hát của ca sĩ tạo nên những kết quả không ngờ với âm hưởng vượt thời gian và không gian.

Còn Một Chút Gì Ðể Nhớ

phố núi cao phố núi đầy sương
phố núi cây xanh trời thấp thật buồn
anh khách lạ đi lên đi xuống
may mà có em đời còn dễ thương

phố núi cao phố núi trời gần
phố xá không xa nên phố tình thân
đi dăm phút đã về chốn cũ
một buổi chiều nào lòng bỗng bâng khuâng

em Pleiku má đỏ môi hồng
ở đây buổi chiều quanh năm mùa đông
nên mắt em ướt và tóc em ướt
da em mềm như mây chiều trong

xin cảm ơn thành phố có em
xin cảm ơn một mái tóc mềm
mai xa lắc bên đồi biên giới
còn một chút gì để nhớ để quên

Vũ Hữu Ðịnh
(Tập Thơ “Còn Một Chút Gì Ðể Nhớ”. VN 1996)

Sự giao cảm giữa nhạc sĩ và ca sĩ, bản nhạc và giọng hát cũng không kém phần quan trọng như trường hợp nhạc của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn và ca sĩ Khánh Ly. Ca sĩ Khánh Ly đã hơn một lần nói rằng nhạc Trịnh Công Sơn đã tạo giọng ca Khánh Ly và đưa cô vào hàng ca sĩ tên tuổi trong và ngoài nước. Thật vậy trong những năm đầu soạn nhạc, ít người biết đến nhạc sĩ Trịnh Công Sơn cho tới khi nhạc Trịnh Công Sơn được Khánh Ly đem vào lòng công chúng với tiếng hát tuyệt vời của cô Khánh Ly chuyên hát nhạc Trịnh, và mọi người đã gắn liền gần như cặp bài trùng như hình với bóng Trịnh Công Sơn / Khánh Ly, nhắc tới người này không thể không nhắc tới người kia, dù sau này vì không gian cách biệt ở quê nhà có ca sĩ Hồng Nhung hát rất thành công nhạc Trịnh Công Sơn, nhưng nàng cũng được mệnh danh là Khánh Ly thứ hai (2). Sự giao cảm đó là một giao cảm đặc biệt có một không hai trong nền nghệ thuật ca nhạc không khác chi sự giao cảm giữa Đặng Trần Côn và Đoàn Thị Điểm trong việc chuyển âm từ Hán sang Nôm của tác phẩm tuyệt vời Chinh Phụ Ngâm Khúc. Giọng ca vàng của Khánh Ly đã truyền đạt với trình độ cao nhạc của Trịnh Công Sơn như tài thơ và cách dùng chữ Nôm của nữ sĩ Đoàn Thị Điểm đã chuyển đạt ý thơ và ngôn từ của Đặng Trần Côn. Sự hài hoà và xúc cảm riêng tư của người chuyển đạt qua lời ca, cách viết của ca sĩ Khánh Ly, của nữ sĩ Đoàn Thị Điểm đã đưa nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, nhà thơ Đặng Trần Con vào lòng dân tộc.

Mỗi một phương tiện truyền thông thơ hay nhạc đều có những điểm chuyên môn mà nghệ nhân trong mỗi ngành phát triển tới mức cao độ để diễn đạt tư tưởng của mình qua lời thơ, nốt nhạc, cách diễn tả qua giọng hát, cử chỉ. Hà Huyền Chi, một nhà thơ lão thành đã có trên hai trăm bài được trên 35 nhạc sĩ phổ nhạc trong đó có Vũ Thành An, Phạm Duy, Trần Quang Hải, Song Ngọc, Từ Công Phụng, Trần Thiện Thanh, Trầm Tư? Thiêng, Hoàng Thi Thơ, Nguyễn Tiến Dũng, Hoàng Linh Duy, Trần Quan Long, Mai Anh Việt, Trần Duy Viêt, Triệu Vinh, Phạm Anh Dũng… đã nhắc tới điểm đặc biệt của thi ca:

Thi trung hữu họa và Thi trung hữu nhạc là điều hiển nhiên không ai có thể phủ nhận được. Cổ nhân đã nói thơ, ngâm thơ, hoặc hát thơ từ trước khi loài người phát minh ra văn tự nhạc cụ và nhạc thuật. (3)

Một bài thơ tuyệt tác ngoài ý thơ tuyệt vời, ngoài lời thơ trau chuốt, còn phải gợi hình, gợi ảnh và có nhạc tính tạo cho người đọc người nghe thấy và thưởng thức những bức tranh hoạ, những lời nhạc và tâm tình của nhà thơ trong bài thơ của mình. Tưởng cũng nên nhắc lại là không hẳn những tâm tình đó là tâm tình thực sư. cá nhân của nhà thơ mà là tâm tình của nhà thơ khi đặt mình vào trạng huống của người trong bài thơ như trường hợp điển hình là Đặng Trần Côn là bậc nho gia đã đặt mình vào vai trò của một người vợ có chồng đi chinh chiến. Chúng ta thấy rất nhiều nhà thơ, nhạc sĩ hiện tại khi viết về tình yêu không hẳn là ho. có nhiều cuộc tình mà thực ra họ chỉ đặt mình vào nhiều hoàn cảnh khác nhau để sáng tác một bài thơ, để phát huy khả năng sáng tạo mà thôi. Trong cuộc phỏng vấn cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn người ta hỏi rằng:

“Bao nhiêu năm rồi còn mãi ra đi. Đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt”. Nhạc sĩ nói với mình hay nói cho ai? Nhạc sĩ đa đi như vậy bao giờ chưa? Và đã nếm được vị mệt ấy chưa?

Nhạc sĩ trầm ngâm đáp: “Cõi đi về ấy dành chung cho tất cả mọi người”

Câu trả lời của Trịnh Công Sơn cũng là câu trả lời chung cho giới sáng tác viết với thân phận làm người về mọi người cho mọi người không hẳn chi? về mình cho riêng mình. Hẳn nhiên cũng có những nhà thơ độc đáo, chỉ viết những gì đã xảy đến trong cuộc đời của họ, mỗi bài thơ là một trang nhật ký với những tình cảm xót xa, hạnh phúc với những biến cố xảy ra trong đời. (3)

Người đọc, người nghe, hay các nhạc sĩ thường sẽ nhận ra ngay những bài thơ tạo cho họ những cảm quan quen thuộc hay mới lạ, đánh động tâm hồn của ho.. Với một thính quan âm nhạc sẵn có của giới yêu nhạc, nhạc sĩ sẽ đóng góp phần mình vào việc hoàn diện hoá bài thơ mình ưa thích, dù tư. nó bài thơ đã hoàn diện trong lĩnh vực thơ, bằng cách phát huy nhạc tính của bài thơ. Nhạc sĩ cũng đóng vai trò sáng tác không kém nhà thơ mà còn có phần hơn nữa, vì thơ thường chỉ có một số lượng hâm mộ ít còn nhạc thì hầu như giới nào cũng có thể thưởng thức được. Điều này chúng ta có thể thấy nhiều trong lãnh vực thơ ca nhạc hiện tại. Sách thơ bán chậm, nhưng các băng nhạc CD bán chạy, và bao giờ cũng hết sớm. Các nhà thơ hiện nay thường xuất bản thơ và CD với tính cách văn nghệ không phải như các thế hệ trước được trọng vọng vì lúc đó người viết thì ít, người đọc thì nhiều, vì người viết nhiều, vì số lượng người đọc hiện nay ở nước ngoài hạn chế vì có nhiều thứ giải trí khác, vì ấn phí cao, và việc thực hiện CD thường rẻ hơn….

“Có thực mới vực được đạo!”

Câu nói từ nghìn đời của ông bà còn đó, một nhà thơ, một nhà văn, một họa sĩ, nhạc sĩ… cần phải được sư. ủng hộ và cổ động của mọi người mới có thể phát huy tài năng của ho. tới tuyệt đỉnh. Việc ra CD cùng với thơ là một bước đáng thực hiện vì CD bổ túc và cường tăng tác động của âm hưởng thi ca vào giới khán-thính độc giả và vì đó là phương tiện các nhà văn nhà thơ để tiếp tục vai trò phục vụ văn học nghệ thuật của mình.

Thưởng thức CD là thưởng thức một công trình đóng góp văn học nghệ thuật tập thể với sư. tham gia của nhà thơ, nhạc sĩ, ca sĩ cũng như các ban nhạc công cũng như một bài hát trên sân khấu là tác phẩm của nhạc sĩ, ca sĩ, các diễn viên trình bày và ban nhạc, vũ trường… Sự cấu tạo hài hoà của sân khấu, vũ trường, CD là một công trình tập thể góp phần tạo tên tuổi của một nhà thơ, một nhạc sĩ, một ca sĩ, một ban nhạc…

Khi trình bày quan điểm này một số thân hữu hỏi tôi, “Bạn có thấy tất cả những bài thơ hay đều được phổ nhạc không?” Tôi đã trả lời bâng quơ, “Nghệ thuật là tương đối, có bài thơ thật hay vẫn không được phổ nhạc, có những bài thơ xoàng xoàng vẫn được phổ nhạc như thường. Tuỳ sự giao cảm của nhạc sĩ và nhà thơ hay bài thơ. Nếu bạn có một người bạn là một nhà thơ giỏi nhạc, thì nhạc sĩ đó sẽ theo dõi thơ bạn nhiều hơn và có cơ hội phổ nhạc bạn hơn. Hay bạn có tên tuổi như những nhà thơ lớn như Hà Huyền Chi, Du Tử Lê, hay gần đây có nhà thơ Trần Mộng Tú thì mọi chuyện dễ dàng hơn vì bạn đã có ngay một giới thưởng thức có sẵn. Phải nhớ rằng khi nhạc sĩ phổ nhạc là nhạc sĩ đã góp phần tăng giá trị của bài thơ, giúp bài thơ có một tầm vóc mới, nhạc tính mới qua thính quan nhạc của người soạn bài hát, đó là chưa nói tới việc hoà âm sau này. Để khách quan đánh giá một nhà thơ, chúng ta cần phải đọc bài thơ, đọc tác phẩm của ho. chứ không thể dựa vào đóng góp bên ngoài mặc dù những đóng góp đó giữ vai trò quan trọng trong việc phổ biến lời thơ. Bạn cũng không nên buồn nếu bạn chưa có bài nào được phổ nhạc nếu bạn đã hài lòng với bài thơ của bạn vì lý do này hay lý do khác! Biết bao nhiêu tác phẩm hay xưa nhiều người ngưỡng mộ vẫn không được phổ nhạc đó mà! Vì mỗi nghệ thuật có nét điểm riêng, thơ văn hay ca nhạc cũng thế! Sư. giao cảm là một yếu tố cần thiết nhưng không phải là một yếu tố không thể không có hay không có không được (a sine qua non factor) cho giá trị của một bài thơ hay một tác phẩm. Tôi nghĩ tác phẩm Cung Oán Ngâm Khúc của Nguyễn Gia Thiều là một trong những tuyệt tác trước kia mà mấy ai biết tới! Có lẽ nhiều người biết bài Tình Già của Phan Khôi hơn!”

Đọc, thưởng thức một bài thơ là một sư. tìm tòi khám phá của mỗi cá nhân, nghe một bài thơ phổ nhạc là một tái khám phá qua sư. khám phá và thính quan âm nhạc của nhạc sĩ. Tôi mong thấy có một ngày giới văn nghệ sĩ có những lớp học cộng đồng để người già người trẻ, người đi trước, người đi sau chia se? và học hỏi những kinh nghiệm sáng tác của mình để duy trì nền văn hoá có một không hai của dân tộc Việt Nam đang ở một chặng đường tiếp lưu với giòng văn học khắp nơi trên thế giới. Tôi tin rằng giòng văn học Việt Nam nói chung và nền văn học Việt Nam hải ngoại sẽ một ngày một mạnh với sự tiếp thu các nền văn hoá nhân loại và sư. giao cảm của mọi giới yêu nghê. thuật, trước tiên là giới yêu thơ, giới nhạc sĩ, các diễn đàn mạng lưới thông tin là giới, là nơi tiên phong trong việc tìm tòi, khám phá và phô? biến văn thơ cho đại đa số khán – thính – độc giả.

Lâu nay, tôi vẫn đọc và học hỏi thi phong của nhà thơ Trần Mộng Tú cũng như nhiều nhà thơ khác, tình cờ tôi nghe được bản Dòng Sông Đứng Lại của nhạc sĩ tài ba kiêm bác sĩ thực thụ Phạm Anh Dũng, lòng tôi chùng xuống trước một khám phá mới: Bài thơ trước đây đã thật hay, bây giờ như thêm đôi cánh chim bằng và gió lộng đưa bài thơ lên mây, bài thơ trở thành ba chiều, bốn chiều, chứ không chỉ còn là một bài thơ đơn thuần nữa. Tôi nhủ với lòng mình là đây chính là trường hợp cụ thể của giao cảm tuyệt vời của nhà thơ, nhạc sĩ, ca sĩ và người đọc.

Cả Một Dòng Sông Đứng Lại Chờ

Tôi xa người nắng buồn trên vai
Môi tôi còn mùi thuốc thơm mời
Người xa tôi một dòng sông trắng
Dẫy núi bên kia có ngậm ngùi

Tôi xa người hàng cây bâng khuâng
Nước dâng lên chiều xuống muôn trùng
Người xa tôi có còn đứng ngóng
Một cánh chim bay ở cuối rừng

Tôi xa người như xa cơn mưa
Mái tóc tôi còn ướt hôm nay
Nhớ tôi người còn châm điếu thuốc?
Nhớ tôi người có đi trong mưa?

Người xa tôi gió cũng lặng thinh
Cho tôi rung nỗi nhớ quanh mình
Người đi như suối qua rừng vắng
Cả một dòng sông đứng lại chờ

Trần Mộng Tú (5)

Trong những năm viết văn làm thơ văn nghệ của tôi, tôi có không ít cảm xúc, ý thơ đến từ thân hữu, giới yêu thơ, các nhạc sĩ, ca sĩ, và bạn đọc bốn phương qua các điện thư, bài nhạc, bài thơ cũng như nhận xét, phê bình, chỉ bảo… để liên tục sáng tác đóng góp phần vào việc duy trì và phát triển văn học Việt Nam hải ngoại. Tôi xin chân thành cám ơn tất cả các diễn đàn, mọi người, các bạn đọc, các nhà thơ, các nhạc sĩ, ca sĩ đã giúp tôi niềm tin, đã giúp tôi đôi cánh để vững tiến trong công việc tìm tòi, khám phá và sáng tác giải trí xưa nay.

Nguyên Đỗ

————————————————————————–

(1) Tài liệu lấy từ mạng Đặc Trưng và Trang Nhà của nhà thơ Luân Hoán
(http://www.dactrung.com)
(http://www.digital-info.com/luanhoan/00lh.htm)

(2) và (4) Tài liệu tham khảo từ trang nhà của ca sĩ Khánh Ly
(http://www.KhanhLy.com)

(3) Thi Trung Hữu Nhạc Hay Tương Quan Giữa Thơ và Nhạc Hà Huyền Chi
Tài liệu lấy từ Gia Trang của nhà thơ Hà Huyền Chi
(http://www.geocities.com/hahuyenchi).KhanhLy.com)

(5) Xin tham khảo Nhạc Phạm Anh Dũng mạng lưới Trinh Nữ
(http://www.trinhnu.net)

Ba Bài Hát Có Tên LỆ THU / Phạm Anh Dũng

Một lần, chị có nói: “Nắng Xuân Xưa, chị hát, nghe thấy cũng… được thôi”.
Nắng Xuân Xưa (Phạm Anh Dũng) Lệ Thu hát, Duy Cường hòa âm, Hoàng Khai Nhan video:
https://www.youtube.com/watch?v=8qKHckN_Mwg&feature=youtu.be

Một hôm, chị gọi phone: “Dũng rảnh đến đây, chị cho em quà” Khi đến hiệu ăn của chị, cảm động, khi chị cho cái CD có bài Xóm Cũ, chị hát tặng. Chị nói: “Xóm Cũ, hát thấy buồn thật, vì nhớ… Việt Nam quá!”
Xóm Cũ (thơ Phạm Thế Trường, nhạc Phạm Anh Dũng), Lệ Thu hát, Hoàng Khai Nhan video:
https://www.youtube.com/watch?v=E336MGgK0kk&feature=youtu.be

Rồi tình cờ, chị nhắc đến bài Nước Mắt Mùa Thu: “Ông Phạm Duy có nói sẽ viết một bài nữa có chữ Lệ Thu nhưng chắc ông ấy… quên mất rồi” Khi tôi chào chị đi về, ánh mắt chị có vẻ nghi ngờ, khi tôi nói: “Em cũng thích cái tên Lệ Thu. Em sẽ viết ít ra một bài có tên Lệ Thu”.

Về nhà, tôi viết Tình Là Hư Không, với câu:
“…Rồi một ngày lệ thu hoen màu nắng…”.
Bài sau thì dễ dàng, chỉ cần đặt tên là Giọt Lệ Thuvà tên chị có ngay ở tên bản nhạc.
Mãi sau này, thêm Dạ Khúc-Bài Nhạc Quỳnh Cuối Cùng có chữ đầu tiên của 2 câu liên tiếp là Lệ và Thu::
“...Lệ ai rơi bến cũ 
Thu vẫn đến trong mưa…”

Nhận được, chị đàn thử và phê bình bài Dạ Khúc-Bài Nhạc Quỳnh Cuối Cùng “nghe như nhạc classics”.
Chị hát xong, gọi phone nói: “Bài này chắc là bài hay nhất của em đấy. Nhưng sao khi chị hát chị lại có cảm giác hát bài Hương Xưa của Cung Tiến ngày xưa”.
Dạ Khúc-Bài Nhạc Quỳnh Cuối Cùng (Phạm Anh Dũng) Lệ Thu hát, Huỳnh Nhật Tân hòa âm, Hoàng Khai Nhan video:
https://www.youtube.com/watch?v=SjCM1VdMRy4&feature=youtu.be 

(tháng Giêng 2021, trích trong bài viết Chị Lệ Thu / Phạm Anh Dũng đang viết dở dang) 

Dạ Khúc – Bài Nhạc Quỳnh Cuối Cùng (Phạm Anh Dũng) Thu Vàng

“…Giai điệu bài ca nghe rất trữ tình, thuộc trường phái lãng mạn, kiểu Vũ Thành..”  Cung Tiến (email ngày 12 tháng 7 năm 2020)

“…Một ca khúc tuyệt vời đạt đỉnh cao của nghệ thuật âm nhạc về lời ca, giai điệu, cũng như chuyển âm giai…”  Hoàng Văn Ngọc (email ngày 7 tháng 5 năm 2020)

“Dạ Khúc-Bài Nhạc Quỳnh Cuối Cùng… một trong những bản nhạc Việt xuất sắc như Hương Xưa của Cung Tiến…”
  Nguyễn Ngọc Khôi (email ngày 17 tháng Bảy 2019)

“…Dạ Khúc-Bài Nhạc Quỳnh Cuối Cùng… trên cả tuyệt vời” 
Phương Tâm (trên Facebook ngày 20 tháng 4 năm 2020)

 “…Bài nhạc có âm điệu nhạc Việt cổ điển, rất lôi cuốn…”  Nguyên Bích (trên Facebook 24 tháng 5 năm 2020)

Dạ Khúc – Bài Nhạc Quỳnh Cuối Cùng (Phạm Anh Dũng) Thu Vàng hát, hòa âm và phối âm của Martino Studio, video 4K do Hoàng Khai Nhan:

Thu Vàng

Thu_vang.jpg

Dạ Khúc – Bài Nhạc Quỳnh Cuối Cùng

(nhạc và lời: Phạm Anh Dũng)

Ðêm khuya giăng sầu, hương thơm hoa Quỳnh lắng sâu
Một vì sao thấp thoáng, trong đêm tối mênh mang
Dòng lệ ai tê tái, thấm ướt không gian buồn… đêm dài

Ðêm buông u hoài, bâng khuâng ta chờ bóng ai
Một mình ta đứng đó, mong thấy dáng thương yêu
Tìm hình ai trong gió, tim ta nỗi cô liêu… tan theo

Rồi từ xa tiếng dương cầm
Thoảng theo gió ai khẽ hát cung trầm ?
Tình đến rồi đi, mà sao lòng vẫn mong chờ
Biết bao nhiêu nhớ thương!

Sao đêm lu mờ, cho ta thêm sầu ngẩn ngơ
Lệ ai rơi bến cũ, thu vẫn đến trong mưa
Quỳnh hoa buông cánh rũ, xa cách mãi muôn trùng … Người ơi!

Gửi Người Dưới Mộ (Đinh Hùng-Phạm Anh Dũng) Lê Bảo

Gửi Người Dưới Mộ, bài thơ tự do dài, nổi tiếng, của Đinh Hùng, được phổ nhạc nguyên tác (version của tôi viết nhạc có khác vài chỗ so với bài viết dưới đây với 2 câu 6/8 sau chuyển xuống dưới cùng và được lập lại khi thành những câu kết
Ta đi, lạc xứ thần tiênHồn trùng dương hiện bóng thuyền U Minh.)

Mời nghe/xem Gửi Người Dưới Mộ (thơ Đinh Hùng, nhạc Phạm Anh Dũng) Lê Bảo đàn hát (Tôi chưa gặp Lê Bảo, chỉ biết qua internet khi một bạn gửi cho tôi xem video này và trong đó Lê Bảo có giới thiệu nhầm lẫn tác giả là Phan Anh Dũng. Về sau, Lê Bảo có email xin lỗi):


Đinh Hùng (Tạ Tỵ vẽ)

Dinh Hung (Ta Ty ve).jpg


Đinh Hùng – “Qua xứ ma sầu… gửi người dưới mộ”
.

“Trời cuối thu rồi – Em ở đâu?
Nằm bên đất lạnh chắc em sầu?
Thu ơi! Đánh thức hồn ma dậy
Ta muốn vào thăm nấm mộ sâu.

Em mộng về đâu?
Em mất về đâu?
Từng đêm tôi nguyện, tôi cầu
Đấy màu hương khói là màu mắt xưa.

Em đã về chưa?
Em sắp về chưa?
Trăng sao tắt, ngọn đèn mờ
Ta nằm rỏ lệ đọc thơ gọi hồn.

Em hãy cười lên vang cõi âm
Khi trăng thu lạnh bước đi thầm
Những hồn phiêu bạt bao năm trước
Nay đã vào chung một chỗ nằm.

Cười lên em!
Khóc lên em!
Đâu trăng tình sử
Nép áo trần duyên?
Gót sen tố nữ
Xôn xao đêm huyền

Ta đi, lạc xứ thần tiên
Hồn trùng dương hiện bóng thuyền U Minh.

Ta gởi bài thơ anh linh
Hỏi người trong mộ có rùng mình?
Nắm xương khô lạnh còn ân ái?
Bộ ngực bi thương vẫn rợn tình?

Hỡi hồn tuyết trinh!
Hỡi người tuyết trinh!
Mê em, ta thoát thân hình
Nhập hồn cây cỏ, đa tình mỗi đêm.

Em có vui thêm?
Em có buồn thêm?
Ngồi bên cửa mộ
Kể cho ta biết nỗi niềm.

Thần chết cười trong bộ ngực điên
Ta nghe em thở tiếng ưu phiền
Nỗi lòng xưa dậy tan thanh vắng
Hơi đất mê người – Trăng hiện lên.”

(Gửi người dưới mộ – Mê hồn ca – Đinh Hùng)

Bài thơ trên của Đinh Hùng chứa đầy u sầu, thương nhớ, đưa chúng ta vào một thế giới liêu trai ma quái, nhưng thấm đẫm tình yêu. Yêu thương nhau sâu đậm, khi phải chia xa vì cái chết ai cũng thốt lên tiếng nấc đau thương tận đáy lòng. Cuộc đời Đinh Hùng đã bị chứng kiến và ám ảnh bởi cái chết. Cái chết của những người thân trong gia đình, cái chết của người yêu. Nỗi đau sâu đậm chất ngất trời mây đã được Đinh Hùng thể hiện trong thơ. Đọc xong bài thơ “Gửi người dưới mộ” của Đinh Hùng, chúng ta đều cảm thấy rờn rợn trong hồn.
Đinh Hùng sinh ngày 3 tháng 7 năm 1920 tại làng Phương Dực, huyện Phú Xuyên, tỉnh Hà Tây. Ông là bạn thân của nhà văn Thạch Lam. Và nhà thơ Vũ Hoàng Chương là anh rể của ông. Từ tuổi đôi mươi Đinh Hùng đã bắt đầu sáng tác thơ, văn và có thơ được đăng trên Hà Nội Tân Văn của Vũ Ngọc Phan, Giai phẩm đời nay của Tự Lực Văn Đoàn. Trong sáng tác, Đinh Hùng còn ký các bút danh Hoài Điệp Thứ Lang, Thần Đăng. Năm 1943, Đinh Hùng xuất bản tập văn xuôi “Đám ma tôi”. Ông được nhà thơ Thế Lữ khuyến khích, bắt đầu nổi tiếng trên thi đàn với bài thơ “Kỳ nữ”.
Năm 1944, Đinh Hùng cùng với các nhà thơ: Trần Dần, Vũ Hoàng Địch, Trần Mai Châu chủ trương thực hiện giai phẩm Dạ Đài. Những người thực hiện và phát hành giai phẩm Dạ Đài với “bản tuyên ngôn tượng trưng”. Đây là một tuyên ngôn nghệ thuật được người đương thời chú ý. Đinh Hùng, Trần Dần, Vũ Hoàng Địch, Trần Mai Châu… tự nhận mình là thi sĩ tượng trưng và tuyên bố: “Chúng tôi sẽ nối lại nghiệp dĩ của Baudelaire, tâm sự của Nguyễn Du – sự nổi loạn và ra đi của Rimbaud – nỗi cô đơn của những nhà thơ lãng mạn. Chúng tôi sẽ vén cao bức màn nhân ảnh, viết lên quỹ đạo của trăng sao – đường về trên cõi chết… Thi sĩ tượng trưng chúng tôi sẽ nói lên và chỉ nói lên bằng hình tượng, thứ ngôn ngữ tân kỳ, ngôn ngữ của thế giới yêu ma, của những thế giới thần nhân mà cũng là thế giới âu sầu đây nữa. Bằng hình tượng, chúng tôi sẽ kể lại những câu chuyện xa xưa người ta kể cho chúng tôi nghe dưới ngọn đèn. Chúng tôi sẽ tìm hiểu linh hồn của những ca dao, tục ngữ. Chúng tôi sẽ tượng trưng hóa cái sức rung động của trẻ em trước chuyện cổ tích hoang đường và sức rung động của gã nông phu trước những bản đồng dao thuần phác…”.
Với ý tưởng của tuyên ngôn ấy, năm 1954, Đinh Hùng cho ra đời tập thơ “Mê hồn ca”.
“Mê hồn ca” xuất hiện trên thi đàn giữa thời loạn ly, đất nước chia đôi nên việc phát hành có phần hạn chế. Tuy vậy, ai đã đọc “Mê hồn ca” cũng đều bị cuốn hút, ám ảnh bởi hình ảnh ma mị liêu trai, ám ảnh bởi sự sống đầy mộng mị của trần gian và chốn âm cảnh. Và, cảm phục trí tưởng tượng bay bổng đầy sáng tạo của Đình Hùng:

“Lòng đã khác ta trở về đô thị
Bỏ thiên nhiên huyền bí của ta xưa
Bóng ta đi trùm khắp lối hoang sơ
Và chân bước nghe chuyển rung đồi suối
Lá cỏ sắc vương đầy trên tóc rối
Ta khoác vai manh áo đẫm hương rừng
Rồi ta đi khí núi bốc trên lưng
Mắt hung ác và hình dung cổ quái
Trông thấy ta cả cõi đời kinh hãi
Dòng sông con nép cạnh núi biên thùy
Đường châu thành quằn quại dưới chân đi
Xao động hết loài cỏ hoa đồng nội
Người và vật nhìn ta không dám nói
Chân lảng xa, từng cặp mắt e dè
Ta ngẩn ngơ nhìn theo bóng ngựa xe
Nhìn theo mãi đến khi đời lánh cả
Và ta thấy hiện nguyên hình sơn dã…”.

(Trích Bài ca man rợ – Đinh Hùng)

Năm 1954, Đinh Hùng vào sống ở Sài Gòn. 1955, ông công tác và là cột trụ của mục Tao Đàn của Đài phát thanh Sài Gòn. Năm 1961, Đinh Hùng xuất bản tập thơ “Đường vào tình sử”. Đến năm 1962, với “Đường vào tình sử” Đinh Hùng đạt giải thưởng thi ca miền Nam. Thế Phong, nhà thơ, nhà văn, nhà biên luận đã nhận định: “Đinh Hùng làm vinh dự cho giải, giải thơ không tạo vinh dự cho Đinh Hùng”.
“Đường vào tình sử” đánh dấu một hướng mới trong sáng tác thơ ca của Đinh Hùng. “Mê hồn ca” là câu chuyện thơ đầy mộng mị, ma quái, bí hiểm như truyện Bồ Tùng Linh, còn “Đường vào tình sử” đời hơn, thực hơn – là những bài thơ tình đẹp, đưa chúng ta vào một thế giới tình yêu đầy hương sắc. Đinh Hùng đã viết những câu thơ đẹp rung động con tim của bao người:

“Chưa gặp em tôi vẫn nghĩ rằng
Có nàng thiếu nữ đẹp như trăng
Mắt xanh lả bóng dừa hoang dại
Thăm thẳm nhìn tôi, không nói năng.
Bài thơ hạnh ngộ đã trao tay
Ôi mộng nào hơn giấc mộng này?
Mùi phấn em thơm mùa hạ cũ
Nửa như hoài vọng, nửa như say.
Em đến như mây, chẳng đợi kỳ
Hương ngàn gió núi, động hàng mi
Tâm tư khép mở đôi tà áo
Hò hẹn lâu rồi – Em nói đi.
Em muốn đôi ta mộng chốn nào?
Ước nguyền đã có gác trăng sao
Chuyên tâm tình dưới hoa thiên lý
Còn lối bâng khuâng: Ngõ trúc đào.
Em chẳng tìm đâu cũng sẵn thơ
Nắng trong hoa, với gió bên hồ
Đành rằng em đấy, khi tình tự
Ta sẽ đi về những cánh xưa.
Rồi buồn ưu sầu, em với tôi
Nhìn nhau cũng đủ lãng quên đời
Vai kề một mái thơ phong nguyệt
Hạnh phúc xa xa mỉm miệng cười.”

(Tự tình dưới hoa – Đinh Hùng)

Bài thơ đã được nhạc sĩ Phạm Đình Chương phổ nhạc mang tên “Mộng dưới hoa” làm đắm say bao người yêu thơ, yêu nhạc.
Đinh Hùng đã từ giã cõi đời vào ngày 24/8/1967 tại Sài Gòn vì bệnh ung thư.
Cùng với thơ, Đinh Hùng còn viết tiểu thuyết dã sử. Tác phẩm đã xuất bản: Cô gái gò Ôn Khâu, Người đao phủ thành Đại La. Trước khi qua đời, Đinh Hùng đã hoàn thành nhiều tác phẩm nhưng chưa kịp xuất bản, gồm có: Tiếng ca bộ lạc (Thơ), Tiếng ca đầu súng (Ký), Dạ lan hương (Văn xuôi), Sứ giả (Tùy bút), Vần điệu giao tình (Cảo luận). Về kịch thơ có: Cánh tay hào kiệt, Phan Thanh Giản, Lạc lối trần gian.
Đinh Hùng là một con người tài hoa trong cuộc sống và văn chương. Rất tiếc tuổi thọ của ông thật ngắn ngủi. Nhưng, tác phẩm thơ của ông sẽ sống mãi với thời gian.

Lê Ngọc Trác

Trích: Thi nhân – Thi ca & Cảm nhận

Thật Hay Mơ & Bích Câu Kỳ Ngộ

Thật Hay Mơ (nhạc và lời Phạm Anh Dũng) Bảo Yến hát, Quốc Dũng hòa âm, Quý Tiết đạo diễn phim:

Bài  Thật Hay Mơ sáng tác 1996, lấy cảm hứng từ truyện Bích Câu Kỳ Ngộ tức Người Đẹp Trong Tranh (xem ở dưới)

Tạm cho là câu chuyện “Người Đẹp Trong Tranh” tân thời. Chuyện một chàng nghệ sĩ nhìn vào tranh thấy người giai nhân trong tranh hóa thành người thật

Trong truyện Bích Câu Kỳ Ngộ người trong tranh (Giáng Kiều) bước ra ngoài tranh để gặp người ngoài đời (Tú Uyên)

Và ở Thật Hay Mơ (lyrics ở dưới cùng) người ngoài đời bước vào tranh thì người trong tranh biến đi mất!

==========

Bích Câu Kỳ Ngộ

Hiện nay không biết tác-giả của quyển “Bích Câu Kỳ Ngộ” là ai. Truyện này kể một sự tích ở nước ta, tức là việc một người học trò tên Trần Tú Uyên gặp một nàng tiên ở đất Bích-câu, bởi thế mới đặt tên truyện là “Bích câu kỳ-ngộ” (sự gặp gỡ lạ lùng ở Bích-câu). Bích-Câu (ngòi biếc) trước thuộc làng Yên-Trạch, tổng Yên-hoà, huyện Thọ-Xương, tỉnh Hà-Nội; nay là phố Cát-Linh. Hiện còn đền thờ Tú-Uyên, bên cạnh nhà Văn-Miếu, là cái di tích của câu chuyện hoang đường này.

Trần-tú-Uyên, một người học trò nghèo, thường hay đi chơi những nơi thắng-cảnh; một lần đến đất Bích-câu, thấy phong cảnh đẹp, bèn làm nhà ở đấy học. Một hôm, ông đi xem hội làm chay ở chùa Ngọc-Hồ (tức chùa bà Ngô ở phố Sinh-từ Hà-Nội). Chiều đến, sắp về, chợt thấy bay đến trước mặt một bài thơ có ý ghẹo mình. Trông ra cửa Tam-quan, thấy một người con gái rất đẹp. Ông bèn đi theo, đến Quảng-văn-đình (nay là chợ cửa Nam Hà-Nội) thì chợt người ấy biến mất. Từ đấy, Tú-Uyên sinh ra ốm tương-tư.

Sau Tú-Uyên đến đền Bạch-mã (nay là phố Hàng Buồm) cầu mộng. Đêm thần bảo ông sáng hôm sau ra đợi ở Cầu Đông (nay ở phố hàng Đường) thì gặp người con gái ấy. Hôm sau ra đợi mãi đến chiều, chỉ gặp một ông lão bán bức tranh một tố nữ giống hệt người đã gặp hôm trước. Ông bèn mua về, treo ở nhà, cứ đến bữa ăn, dọn hai cái bát, hai đôi đũa, mời người trong tranh ăn. Một hôm, ông đi học về, thấy có mâm cơm dọn sẵn, trong bụng sinh nghi. Hôm sau, ông rình ở một chỗ, thấy người trong tranh bước ra, ông vội chạy lại hỏi, thì người ấy nói tên mình là Giáng-Kiều ở trên cung tiên xuống, xin kết duyên cùng ông. Giáng-Kiều làm phép biến chỗ nhà của ông thành nguy nga tráng lệ.

Tú-Uyên lấy Giáng-Kiều được ba năm, thường cứ rượu chè say sưa, nàng can ngăn, ông không nghe, lại còn đánh đập. Một lần, nàng quá giận, bỏ ông biến đi. Đến lúc tỉnh, ông đi tìm đâu cũng không thấy, chỉ than khóc thương tiếc. Một hôm buồn quá, ông toan tự vận; chợt nàng Giáng-Kiều hiện ra, ông bèn từ tạ, hai bên đoàn tụ như xưa.

Từ bấy giờ Tú-Uyên đối đãi tử-tế với Giáng-Kiều. Sau sinh được một đứa con trai đặt tên là Chân-Nhi. Nàng Giáng-Kiều bèn khuyên ong nên lên cõi tiên và trao cho bùa tiên cùng thuốc tiên để ông tu luyện. Rồi một hôm sau khi đã dặn dò Chân-Nhi ỏ lại cõi trần. hai vợ chồng cùng cỡi hạc bay lên cõi tiên.

==========

Thật Hay Mơ

(nhạc và lời Phạm Anh Dũng)

Một chiều nắng phai, ta thấy em như mơ
Hình người lãng du trên bức tranh nên thơ
Nhạt mầu áo tím trong nắng mơ hồ
Và ta không biết em thật hay mơ ?

Em ơi, người mộng trong tranh
Này em có biết, ta gặp đâu rồi ?
Làn môi sương khói
Nụ cười mênh mông xa vời
Mầu mây tóc xoã
Mà sao đôi mắt chơi vơi

Rồi chiều nắng qua, khi dáng ai xa xa
Tìm vào bức tranh không thấy em nơi đâu
Chỉ còn có chút mầu tím chân trời
Mầu môi mắt biếc tan vào hư vô …

==========

Không quen biết trước, đạo diễn điện ảnh Quý Tiết đã thực hiện và gửi tặng, qua một thân hữu và qua internet, VCD Thật Hay Mơ, VCD hay, đẹp.

XIN CÁM ƠN ANH QUÝ TIẾT

==========

Thiếu Nữ (tranh Nguyễn Sơn)

Tâp Nhạc Nguyên Bích

Vừa nhận được Tâp Nhạc Nguyên Bích hay, đẹp và trang  nhã
Nguyên Bích cùng là đàn anh Y Khoa Sài Gòn, cùng Quân Y Hiện Dịch, trên tôi 5 lớp 

Tập Nhạc Nguyên Bích gồm 70 bài, được sắp xếp theo thứ tự A, B, C …
Có nhiều tranh phụ bản của các họa sĩ tên tuổi như Nguyễn Hữu Phước, Đinh Cường, Nguyên Khai, Mùi Quý Bồng 
Tập Nhạc Nguyên Bích trên amazon dot com:

Nhạc Nguyên Bích nhiều bài hay hát bởi những những ca sĩ chuyên nghiệp rất hay
Và tìm nghe dễ dàng trên net, nhất là vào:  

Tôi xin gửi 1 bài (có trong tập nhạc) do tôi đã hát 
Sám Hối (thơ Mùi Quý Bồng, nhạc Nguyên Bích, Phạm Anh Dũng hát:
*
Tap Nhac Nguyen Bich.jpg
*
2ebc4-ns-nguyenbich.jpg

Nhạc Phạm Anh Dũng Blues/Jazz

Nhạc Phạm Anh Dũng viết theo Blues/Jazz

Tiếng Hát Liêu Trai (Phạm Anh Dũng) Bảo Yến hát, Quang Đạt hòa âm, Kim Tuấn phối khí, Hoàng Khai Nhan video:

Nghiêng (thơ Thơ Thơ, nhạc Phạm Anh Dũng) Julia Nguyễn trình diễn với background vocals Duccadillac’s Group, hòa âm Quốc Nguyễn, Thành Phạm trumpet, NNX-Studio USA phối khí, Hoàng Khai Nhan video:

Bài Tình Ca Ngày Xưa (nhạc Phạm Anh Dũng, lời Phạm Anh Dũng & Minh Hà) Bảo Yến hát, Quang Đạt hòa âm, Kim Tuấn phối khí, Hoàng Khai Nhan video:

Tôi Lại Mình Tôi (thơ Hồng Hà, Nhạc Phạm Anh Dũng) Thùy An hát, Cao Ngọc Dung hòa âm, Hà Hùng video:

15 Năm (thơ Phạm Ngọc, nhạc Phạm Anh Dũng) Bảo Yến hát, Quốc Dũng hòa âm, Hà Hùng video:

Thật Hay Mơ (Phạm Anh Dũng) Bảo Yến hát, Quốc Dũng hòa âm, Quý Tiết video:

Blues & Jazz

CD Đá Xanh – Thu Vàng & Vân Châu

CD Đá Xanh – Thu Vàng & Vân Châu

Hình bìa (Đinh Trung Chính)

BIA CD DA XANH (THU VANG& VAN CHAU)
CD Đá Xanh – Tiếng Hát Thu Vàng & Vân Châu

Mời nghe/xem hát, video đa số do Hoàng Khai Nhan thực hiện:

THU VÀNG & VÂN CHÂU
1. Lời Ru Bú Mớm Nâng Niu (Phạm Duy-Phạm Thiên Thư) Thu Vàng & Vân Châu hát:

2.Tuổi Thơ (Lê Thương) Thu Vàng & Vân Châu hát

3. Dòng An Giang (Anh Việt Thu)

4. Đá Xanh (Lê Uyên Phương) Thu Vàng & Vân Châu hát:

5. Lời Mẹ Ru (Trịnh Công Sơn) Thu Vàng & Vân Châu hát:

VÂN CHÂU
6. Giấc Mơ Trưa (Giáng Sơn) Vân Châu hát:

7. Khi Màu Nắng Tắt (Đức Trí) Vân Châu hát:

8. Còn Nhau (Hoàng Khai Nhan) Vân Châu hát

9. Tóc Mai Sợi Vắn Sợi Dài [Phạm Duy] Vân Châu & Đông Triều hát:

10. Dạ Quỳnh Hương (Phạm Anh Dũng-Hoàng Ngọc Quỳnh Giao) Vân Châu hát:

Nguyễn Cao Nam Trân

Xin Là Tình Cuối (thơ Thanh Lan, nhạc Phạm Anh Dũng) Nam Trân trình bày:

 

Nguyễn Cao Nam Trân, tiếng hát chở quá khứ vào lấp lánh, mai sau.

29 Tháng Năm 2015

Đó là tháng chín, 2013. Thành phố Garden Grove. Ngôi nhà đường Ward. Ngôi nhà có hàng hiên nhỏ, ôm dọc vách tường gỗ, nhường diện tích lớn còn lại cho sân cỏ.

Đó là lúc những hưng phấn bằng hữu tỏa ngời từ những trang văn xuôi đẹp, còn thơm mùi mực của Lê Lạc Giao trong “Một thời điêu linh”. Chiếc máy ảnh không chút nghỉ ngơi, thường trực gia tăng công xuất trong tay nhà thơ Phan Tấn Hải. Tiếng cười rộn rã của Nguyễn Lương Vỵ, xen kẽ với những hỏi han, nhắc nhở ân cần của chủ nhà và, Lê Lạc Giao…

nguyencaonamtran-content

Đó là lúc những ly rượu chát đỏ, những khay thức ăn có từ thâm tình Saigon cũ đến với họ Lê.

Đó là lúc bóng tối đã tìm tới cùng những tiếng hát nghiệp dư của những tấm lòng Việt luân lạc quê người, lần lượt bước ra, ở lại trong hoài niệm một Việt Nam, bên kia biển đông. Bất biến.

Đó cũng là lúc màu đen của bóng đêm đã gia tăng sắc tố và, những người không thể ở lại lâu hơn, đã ra về.

Giữa lúc bóng đêm chia hàng hiên và, sân cỏ thành những tụ điểm của tâm tình, rì rầm thân ái cũ, bất ngờ, tiếng hát nơi bậu cửa dẫn ra vườn sau, cất lên.

Người con gái đứng xéo góc với ngọn đèn lớn. Ánh sáng cắt nghiêng khuôn mặt trẻ thơ của người con gái mà, phần chìm trong bóng tối, lại là phần lấp lánh nhất của nhan sắc.

Hình ảnh người con gái vừa bất ngờ cất lên tiếng hát, như hồi chuông ngậm buồn quá khứ. Những hồi chuông không chỉ gọi buổi chiều trở lại mà, tiếng hát cô còn như những lượng sóng sững sờ cực mạnh, làm tê cứng những tâm tình thân ái, nơi những bóng hình còn lại:

“Anh nhớ trước đây dáng em gầy gầy
Dịu dàng nhìn anh đôi mắt long lanh
Anh nhớ bước em khi nắng vương thềm
Má em mầu ngà tóc thề nhẹ vương

“Nay anh về qua sân nắng
chạnh nhớ câu thề tim tái tê
chẳng biết bây giờ
người em gái duyên ghé về đâu

“Nay anh về nương dâu úa
giọng hát câu hò thôi hết đưa
hình bóng yêu kiều
kề hoa tím biết đâu mà tìm…”

(“Nắng chiều” Lê Trọng Nguyễn)

“ …Biết đâu mà tìm” – – Câu hỏi nao lòng, bước ra khỏi “Nắng chiều” của tài hoa Lê Trọng Nguyễn, để trở thành câu hỏi của những người còn lại, đêm tháng 9, đường Ward, Garden Grove.

Người con gái không chuyển động. Chỉ đôi mắt cô long lanh những bước chân “về nương dâu úa” (hay trở về cố lý?)

Hình ảnh người con gái vừa bất ngờ cất lên tiếng hát, như hồi chuông ngậm buồn. Những hồi chuông không chỉ gọi buổi chiều trở lại mà, tiếng hát cô còn như những lượng sóng sững sờ cực mạnh, làm tê cứng những tâm tình thân ái, nơi những bóng hình còn lại. Hơn thế, tiếng hát cô còn khiến những còn lại kia bỏ sân cỏ, bỏ hàng hiên, bước lại gần bậu cửa. Trong những lại gần đó, có tôi, khi người con gái, bằng vào tiếng hát như có ma lực của mình, một lần nữa, gọi buổi chiều trở lại:

“Lắng trầm tiếng chiều ngân
Nhạc dặt dìu ái ân
Người ôi! Nhớ mãi cung đàn
Năm tháng phai tàn
Duyên kiếp vẫn còn lỡ làng

Đã quên hết sầu chưa
Lời này là tiếng xưa
Quỳ dâng dưới nắng phai mờ
Bên gối ơ thờ
Ôi tiếng tơ tình mong chờ

“Chiều êm êm đưa duyên về người
Đàn triền miên nắn tiếng sầu đời
Người hỡi!
Đến bên tôi nghe lời xao xuyến
Như chuyện thần tiên.
Niềm mơ xưa là đó
Cho ta nâng niu lời ca
Chiều mơ không gian
Thở hơi khói Thiên Đàng (*)
Thuyền trôi bến sông xa đừng chờ
Xin hãy lắng nghe bao lời thơ chiều tà…”

(Enrico Tosilli “Serenata”. Lời Việt Phạm Duy)

Người con gái vẫn bất động. Ánh sáng cắt nghiêng khuôn mặt trẻ thơ của cô mà, phần chìm trong bóng tối, lại là phần lấp lánh nhất của nhan sắc. Nhan sắc trẻ thơ ấy dường lấp lánh, rực rỡ hơn nữa, khi cô…nhắc nhở:

“Người hỡi!
Đến bên tôi nghe lời xao xuyến
Như chuyện thần tiên.
Niềm mơ xưa là đó
Cho ta nâng niu lời ca
Chiều mơ không gian
Thở hơi khói Thiên Đàng
Thuyền trôi bến sông xa đừng chờ…”

Người con gái nhắc nhở “Thuyền trôi bến sông xa đừng chờ…” – – Nhưng, chờ đợi lại chính là ngọn lửa bỗng được thắp lên, ngậm ngùi trong góc kín khuất nhất mỗi người.

Và, cuối cùng thì:

Ai lướt đi ngoài sương gió
Không dừng chân đến em bẽ bàng
Ôi vừa thoáng nghe em
Mơ ngày bước chân chàng
Từ từ xa đường vắng
Đêm mùa thu chết
Nghe mùa đang rớt rơi theo lá vàng…

(Văn Cao, “Buồn tàn thu”)

Người con gái vẫn bất động. Nhưng trong tiếng hát của cô, kỳ diệu thay, lại có người “…lướt đi ngoài sương gió”. Có “bước chân chàng”,  “đêm mùa thu chết” và nhất là có “mùa đang rớt rơi theo lá vàng”…

.

Tôi biết, không ít ca sĩ đã “đặt cược” tài năng, tên tuổi họ vào chữ “lướt” huyền ảo của đời nhạc Văn Cao. Nhưng kết quả họ nhận được, chẳng may, lại là thất bại! Với tôi, chỉ có một vài tiếng hát đem được chữ “lướt” mê mị trong “Buồn tàn thu” của Văn Cao vào sâu da-thịt-cảm-xúc, là Thái Thanh, Ngọc Hạ… Và, đêm tháng Chín, ở Garden Grove, đường Ward, là người con gái bất động, có nhan sắc trẻ thơ, bị ánh sáng xéo góc, cắt nghiêng đó.

Một sớm mai đầu năm, mới đây, nơi hành lang nhà hàng Tài Bửu, Nguyễn Lương Vỵ mở tôi nghe “Đêm, nhớ trăng Saigòn” của Phạm Đình Chương, bằng chiếc I-phone của Nguyễn.

Một lần nữa, tôi ngạc nhiên tới sững sờ, khi cũng tiếng hát đó, đã thánh thót với âm vực vượt trên một bát độ, lúc cô ra khỏi ca khúc với chữ “bến nào” của tài hoa âm nhạc họ Phạm… Một thử thách từng gây thất vọng cho tác giả và, người nghe bởi nhiều ca sĩ. Và, một lần nữa, ngoại lệ, với chữ “bến” kia, vẫn là Thái Thanh. Quỳnh Giao. Lê Hồng Quang…

.

Người con gái có nhan sắc trẻ thơ, bị ánh sáng xéo góc, cắt nghiêng, đêm tháng Chín, đường Ward, Garden Grove, cách đây hai năm đó, là tiếng hát Nguyễn Cao Nam Trân.

Nguyễn Cao Nam Trân, ở một góc riêng của hiện diện mình, có thể chưa quen thuộc lắm, với đám đông. Nhưng, cách gì thì cũng đã là: Tiếng-hát-Nguyễn-Cao-Nam-Trân.

.

Gần đây, tôi mới được biết Nguyễn Cao Nam Trân sinh trưởng trong một đại gia đình gồm những chói lọi âm nhạc. Như giáo sư âm nhạc, bà Nguyễn Thế Phiệt, em ruột của bà ngoại Nam Trân. Như pianist Cao Xuân Ánh Minh. Như danh ca Minh Trang, chị ruột của bà ngoại Nam Trân, v.v…

Là hậu duệ, được thừa hưởng những chủng tử âm nhạc lớn, cộng thêm nỗ lực tự đào luyện và học thanh nhạc ở xứ người, bây giờ thì tôi không còn chút ngạc nhiên nào, nơi tiếng hát của người con gái có âm vực vượt trên bát độ – – Và khả năng khêu thức những giai điệu vàng son một thời của dòng tân nhạc Việt.

Tôi muốn gọi tiếng hát Nguyễn Cao Nam Trân là tiếng hát chở được quá khứ, nghìn trùng vào lấp lánh, quê người, mai sau.

Du Tử Lê
(Garden Grove, May 2015) 

____________

(*) Có bản chép “Hờ hững cõi Thiên Đàng