Chị Dung

Chị Dung (National  Geographic tháng 10, 1961)

Tháng Bảy Chưa Mưa (thơ Y Dịch, nhạc Phạm Anh Dũng) Tuấn Ngọc hát, Duy Cường hòa âm, Hoàng Khai Nhan video:
https://www.youtube.com/watch?v=UtcgCHfYebI&list=PL0FJzQa1Qa89Adj2-mQoD_75g_TjBPWr2 

Giòng Nhạc Phạm Anh Dũng (Châu Đình An):
https://phamanhdung.wordpress.com/2014/02/26/giong-nhac-pham-anh-dung-chau-dinh-an/

*******************

Chị Dung


Chị ruột yêu thương của tôi, tên là Phạm Thị Dung và các bạn chị gọi là Phạm Dung hay Phạm Dung-Lê Đình Điểu (ghép tên chồng vào), nhưng tôi chỉ thích gọi hay viết: chị Dung.

Chị vừa qua đời, tôi bàng hoàng và vì mất chị thành muốn viết vài hàng.

Gia đình tôi tất cả 13 anh em, nay không có chị nữa, chỉ còn 3 và anh chị em tôi không ai có thể so được với chị. Từ ngày xưa còn bé cho đến bây giờ, lúc nào tôi cũng xem chị như một tấm gương sáng để theo.

Chị Dung ít nói nhưng nghiêm và tôi chắc chắn các anh chị em chúng tôi đều nể phục nghe lời chị, dù chị không phải là con trưởng ở gia đình. Riêng tôi, tôi còn “sợ” chị vì hồi nhỏ hay bị khảo bài trước khi đi học. Có lẽ vì vậy sau này tôi học cũng tạm đâu vào đấy. Thú thật trong nhà chỉ có chị Dung và anh Vân (cũng qua đời lâu rồi) là đáng kính cảm phục, còn lại đám anh chị em trước sau, kể cả bản thân tôi đều không nhiều thì ít đều không hoàn toàn.

Chị nghiêm nhưng chị cũng rất hiền, rất tốt với mọi người, giúp đỡ tất cả kể cả người lạ nhưng không may. Điểm này chị giống mẹ chúng tôi y hệt. Cụ đã hết tiền dành dụm vì nấu cháo cho người đói ăn hồi nạn đói năm Ất Dậu.

Chị Dung rất thích âm nhạc. Chị đã từng đậu vào Quốc Gia Âm Nhạc, chị thích học mandolin,  nhưng nhà không đủ điều kiện để chị học cả chữ và nhạc.

Chị học Trưng Vương, ra trường đậu Tú Tài hạng cao được học bổng đi Hoa Kỳ học.

Trước đó chị bắt đầu quen với anh Điểu và hai người yêu nhau. Khi chị đi Hoa Kỳ năm 1961, với bút hiệu Y Dịch, anh có làm bài thơ Tiễn Em và tôi có viết thành bài nhạc Tháng Bảy Chưa Mưa năm 1992.

Lúc đó còn một kỷ niệm vui là “ai” chụp ảnh chị đang đi xe velosolex đăng lên National  Geographic tháng 10 năm 1961, sau khi chị đã đi. Chị không nói, mãi đến sau này tôi mới biết.

Năm 1963, chị tốt nghiệp BS of Nursing và lấy được bằng hành nghề Registered Nurse. Khi về nước chị đi dạy Nursing ở trường Cán Sự Điều Dưỡng và dạy Anh Văn ở Hội Việt Mỹ. Anh Điểu, chồng chị,  làm đến Cục Trưởng Cục Nội Vụ của Tổng Cục Thông Tin Chiêu Hồi nhưng vẫn không đủ sống thoải mái vì chị vẫn phải giúp đỡ cha mẹ và các anh chị em.

Chị Dung hiền không trách ai bao giờ. Hiền đến nỗi chỉ thở dài, không trách cứ ai, kể cả nhưng người tưởng là bạn nhưng đã làm hại đến chồng con, gia đình mình. Tôi chưa hề thấy chị nói xấu người khác bao giờ.

Nhưng chị cũng rất vững vàng. Sau “giải phóng” 1975, chị mất việc và ở nhà nuôi 3 đứa con bằng cách thổi xôi bán chợ trời khi chồng đi học cải tạo. Khó tưởng tượng và thật là kiên trí, mẹ bồng bế 3 con lôi thôi lếch thếch vượt biên 9 lần, vài lần bị bắt tù, mà vẫn không thoát!

Sau những cái rủi cũng đến cái may. Rồi sau gia đình cũng may qua được Pháp 1983, khi anh Điểu đi học tập về,  vì bố chồng chị ngày xưa là Trung Úy Quân Đội Pháp và dù cụ đã qua đời rồi chính phủ Pháp vẫn lo cho gia đình đi.

Tôi đón gia đình anh chị qua Hoa Kỳ năm 1985. Anh Điểu theo nghề ký giả cho báo Việt, nghề bạc bẽo, bận, không có tiền và thỉnh thoảng còn bị “chụp mũ”. Căn bản là lương của chị Dung hành nghề  school nurse. Vợ chồng sau cũng mua được nhà cửa ở Bellflower, giữa Orange County và Los Angeles. Gia đình, con cái… hầu như mọi sự do chị lo để anh đi lo chuyện “vác ngà voi”.

Rồi anh Điểu qua đời 1999 vì bệnh bất ngờ và chị Dung “ở vậy” từ đó đến nay, kể cả khoảng 10 năm ở một mình trong căn nhà cũ đầy kỷ niệm. Những năm sau này có con cháu về ở chung cũng đỡ vắng vẻ hơn.

Khoảng 2 năm rưỡi trước đây, chị được bác sĩ cho biết là bệnh nặng cần hóa quang trị và giải phẫu. Chị qua các trị liệu dễ dàng. Nhưng khoảng sáu tháng sau này bệnh quay lại và lần này có không thuốc chữa được.

Ba ngày trước, cháu Y Sa, con gái chị gọi điện thoại cho biết tin dữ. Dù biết chuyện không tránh được, tôi nghẹn lời không nói ra lời và phải cúp điện thoại. Hôm nay nghĩ và viết những dòng này mới thấy chị là một con người thật “đẹp” và tôi dám chắc chị Dung đã dễ dàng siêu thoát về nơi cao, nơi có anh Điểu đang chờ đã 20 năm.

Chị Dung đã “đi xa” mãi mãi rồi!

Phạm Anh Dũng
ngày 29 tháng Tư năm 2019

Anh chị Điểu-Dung (ảnh do anh Trần Đại Lộc tình cờ chụp)

********************

Tấm ảnh “Hình ảnh một buổi chiều”

Tôi vẫn thích sưu tầm ảnh đẹp. Nhìn ngắm một bức ảnh đẹp, thấy lòng mình như lắng xuống, thấy tâm hồn như dịu lại và cuộc sống như cũng dễ chịu hơn. Không chỉ thích ảnh đẹp tôi còn thích đặt tên cho ảnh. Nhiều ảnh không cần phải đặt tên, thế nhưng có đôi lúc gặp bức ảnh gợi nhiều cảm xúc tôi vẫn muốn tìm cho ảnh một cái tên.

Tấm ảnh tôi xem được ở nhà chị Dung là một ảnh như thế. Tấm ảnh khá quen thuộc với những người thân của chị. Tôi gọi tên ảnh là “Hình ảnh một buổi chiều”.

Tôi nhớ, trong chuyến đi Nam Cali ngắn ngày nhiều năm trước, chị Dung nhắn vợ chồng tôi ghé nhà chơi. Trước đó tôi được chị gửi tặng tập sách quý với chữ ký chỉ phác vài nét tên chị, cũng dung dị như tính cách của chị. Trong sách có cái “note”, chị nói phải gửi qua bưu điện vì chờ mãi chẳng thấy xuống để đưa tận tay. Tập sách đầy đặn, là “Tuyển tập Lê Đình Điểu”.

Chị Dung có lối nói chuyện thật tự nhiên và thân mật khiến người nào gặp chị lần đầu cũng cảm thấy thoải mái và gần gũi.

Hôm ấy tôi cũng được gặp những con người thật nghệ sĩ trong gia đình chị là chị Bích Huyền (phụ trách “Chương trình thơ, nhạc” quen thuộc đài VOA) và anh chị Phạm Anh Dũng (nhạc sĩ sáng tác, với nhiều ca khúc phổ thơ).

Sau bữa cơm gia đình là buổi “trà đàm” văn nghệ khá lý thú giữa mấy chị em trong nhà. Tôi không định nhắc tên anh Điểu, thế nhưng đến khi chị Bích Huyền đọc câu thơ trong bài thơ nào của Y Dịch,

Lần đầu em hát theo tà áo
Lần đầu anh bối rối bàn tay

tôi buột miệng hỏi chị cái lần “anh bối rối bàn tay” ấy có phải là “thuở ban đầu” của anh chị. Hỏi thế là có lý do, tôi nhớ có đọc đâu đó anh Điểu kể chuyện có lần anh phải đỏ mặt xấu hổ vì bị thầy giáo hay cô giáo trong lớp chị “bắt quả tang” anh lóng ngóng đứng chờ chị ngoài hành lang lớp học.

Tôi chỉ nhớ được mỗi câu lục bát của anh, bèn đọc cả nhà nghe và nói tôi thích câu thơ ấy vì rất gần với ca dao và thơ Nguyễn Bính.

Mùa thu có lá ngô rơi
Có đôi người mới thành đôi vợ chồng

Chị Dung nói chị cũng thích câu thơ ấy và anh chị đều thích thơ Nguyễn Bính. Rồi vui chuyện, chị kể thêm những bài thơ nào anh viết tặng chị, những bài hát nào hai người cùng thích, những cuốn phim nào hai người cùng xem như là những kỷ niệm ngọt ngào và cả những nơi chốn đầy những “dấu chân kỷ niệm” của anh chị kể từ ngày hai người gặp nhau, yêu nhau trong sân trường Văn khoa. Tôi nhớ chị nhắc tên phim “Vũ điệu trong bóng mờ” (La valse dans l’ombre) và tên bài hát “Tà áo Văn quân” của Phạm Duy Nhượng, như nhắc tôi nhớ ra rằng từng có một bài hát đẹp như thế trong nhạc Việt, kể về câu chuyện… “Một chàng phiêu lãng, ôm đàn tới giữa đời.

Từ lúc ấy tôi chỉ có mê mải ngồi nghe và nghe, chỉ thỉnh thoảng góp chuyện. Tôi nhớ định nói chị nên viết hồi ký kể lại câu “chuyện hai người” ấy nhưng lại thôi, và chỉ nói thật tiếc là tôi đã không được gặp anh ngày trước.

Đến một lúc câu chuyện tạm ngưng, chị Dung bỗng đứng dậy nói vợ chồng tôi đi theo chị. Chúng tôi bước vào căn phòng nhỏ tĩnh lặng, được chị cho biết là phòng làm việc của anh Điểu. Chị nói từ ngày vắng anh, chị giữ nguyên trạng các vật dụng bày biện trong phòng, như là anh chỉ mới vừa đi xa. Thỉnh thoảng chị vào phòng lau chùi bụi bặm, kéo màn cửa cho ánh nắng rọi vào.

Đứng bên chị, tôi đưa mắt nhìn quanh. Những giá sách, thật nhiều sách, và những tranh ảnh rải rác. Tôi chú ý chiếc khung ảnh trên bàn làm việc của anh. Tấm ảnh đen trắng, mờ mờ. Chị đứng nép một bên vai anh, tựa đầu lên vai anh. Anh cúi nhìn chị, nụ cười ấm áp thương yêu. Cánh tay chị quàng lên vai anh, và bàn tay anh nắm giữ bàn tay chị. Anh có nụ cười thật hiền, chị có miệng cười thật đẹp, để lộ đường răng trắng. Trông anh chị như đôi chim bồ câu quấn quýt không rời.

Tôi đứng nhìn thật lâu, như bị hút vào tấm ảnh, tưởng nhìn thấy được hạnh phúc trên nét mặt chị, trên nụ cười chị và cả trên những lọn tóc chị. Tựa đầu lên vai anh, khuôn mặt chị nằm nghiêng, mái tóc cũng nằm nghiêng. Mái tóc anh từng yêu, từng viết thành bài thơ tặng chị. Tôi không nhớ bài thơ như thế nào nhưng nhớ rằng bên dưới cái tựa chỉ có một chữ “Tóc” ấy anh viết xuống câu dẫn vào bài nhạc “Hình ảnh một buổi chiều” của Lâm Tuyền và Dạ Chung, “Anh không giữ trong tay một kho tàng hay một danh vọng nào cả, anh chỉ giữ hình ảnh một buổi chiều, khi nắng vàng nhuộm mái tóc em.”

“Ảnh cũ lắm rồi,” chị Dung nói. Tôi nói tấm ảnh đẹp giống như bài thơ hay, chẳng bao giờ cũ cả. Tôi lại quên hỏi chị ảnh chụp lúc nào, ở đâu. Không gian ấy có thể là buổi sáng hay buổi chiều nhưng tôi cứ cho là buổi chiều vì nhớ dòng chữ anh Điểu ghi trên đầu bài thơ tặng chị. Nơi chốn ấy có thể là đồi cỏ hay cánh đồng nào ở miền quê. Xa xa, sau lưng hai người, là rặng núi mờ mờ.

Trong thoáng chốc, tôi thấy lòng mình như se lại. Tôi nghĩ đến những lần chị Dung một mình bước vào căn phòng vắng lặng ấy, một mình chị ngắm nhìn những kỷ vật nằm im lìm ấy, và cả tấm ảnh mờ mờ đánh thức trong chị những thoáng hạnh phúc mơ hồ, xa xăm. Chị giữ căn phòng ấy như giữ chút hơi ấm của người chồng muôn thuở.

Sau ngày anh mất, chị Dung đã có những năm sống một mình, lặng lẽ như chiếc bóng trong ngôi nhà đầy kỷ niệm ở Bellflower. Chị làm bạn với hoa lá trong mảnh vườn sau nhà, chị tận hưởng sự tĩnh lặng và cứ một mình một bóng như thế cho đến khi các con chị dọn về ở với chị.

Trở vào phòng khách, tôi nói đùa câu gì đó cho chị vui, nhưng không thấy chị cười. Chị lặng yên như đang suy nghĩ chuyện gì hay đắm chìm trong thế giới nào riêng tư.

Nhớ lần sau cùng tôi gọi điện thoại thăm chị Dung. Chị nói dạo sau này không được khỏe lắm, rồi chị nói sang chuyện khác. Chị Dung là vậy, chị chia sẻ niềm vui, chị giấu kín nỗi buồn. Chị không nói về mình, chị chẳng kể ai nghe, nhiều bạn bè chị không hề hay biết gì về bệnh tình của chị cho đến khi…

Hôm được tin chị mất, tôi tưởng mình nghe lầm, tôi mong là mình nghe lầm.

Cứ mỗi lần hay tin một người thân quen nào đột ngột qua đời, tôi lại có cảm giác thật hụt hẫng như vừa bước hụt vào khoảng không và nhận rõ hơn bao giờ hết cái vô nghĩa đến tột cùng của đời sống.

“Thứ Bảy này cả nhà sẽ tiễn đưa chị Dung,” chị Bích Huyền nói với tôi đêm qua. Chị rưng rưng nói chị rất buồn và nhớ.

“Chắc giờ này chị Dung đã gặp lại anh Hà,” sau cùng chị Bích Huyền nói.

“Tôi cũng tin như vậy,” tôi nói vậy, rồi mở cánh cửa sau bước ra ngoài, ngước nhìn bầu trời đêm lác đác sao. Tôi dõi mắt trông về một ngôi sao xa nhất, khi ẩn khi hiện trên nền trời đen thẫm, trông xa vẫn thấy lấp lánh như có một linh hồn.

Em đi rồi, anh trở về hồn lạnh, mắt sao rơi…

Câu hát ấy ở trong bài nhạc phổ thơ Y Dịch, bài thơ “Tiễn em” anh viết tặng chị khi tiễn đưa chị lên đường du học Hoa Kỳ, là thời kỳ hai anh chị mới yêu nhau… thì xa nhau. Người phổ bài thơ ấy là em chị Dung, nhạc sĩ Phạm Anh Dũng.

“Hai nốt nhạc ‘sao rơi’ ấy nghe thật là mênh mang,” tôi nói với anh Dũng như vậy.

* * *

Chị Dung đã sẵn sàng và chuẩn bị mọi thứ cho chuyến đi xa của chị. Chị bình thản chờ đợi điều xấu nhất đến với mình; hơn thế nữa, chị mong đợi điều ấy đến với mình.

Chị mong đợi ngày ấy, như anh từng mong đợi chị, như anh và chị từng mong đợi nhau suốt những năm chị du học, suốt những năm anh tù tội. Anh và chị đã quen chờ đợi. Thế nhưng chị không thể bắt anh chờ đợi lâu hơn nữa.

“Mẹ để bố chờ lâu quá rồi, mãi đến 20 năm!” Chị Dung nói với cô con gái mình.

Hai mươi năm của chị Dung chỉ như bóng mây qua, chỉ như giấc mộng dài. Rồi anh chị lại có nhau, lại tay trong tay trên cánh đồng thời gian. Cũng như chị Bích Huyền và bao người thân yêu khác của chị Dung, tôi tưởng nhìn thấy anh đang dang rộng cánh tay về phía chị cùng với nụ cười ấm áp thương yêu, nụ cười thật hiền hệt như trong tấm ảnh ngày xưa ấy.

Anh Điểu “không giữ trong tay một kho tàng hay một danh vọng nào cả”, và chị Dung cũng chỉ giữ có mỗi tấm ảnh mờ mờ ấy. Tấm ảnh “Hình ảnh một buổi chiều”.

Lê Hữu

(*) Hà là tên gọi của anh Điểu trong gia đình.

*******************

Một số bài viết ngắn về Chị Dung, khi chị vừa qua đời:

Nước Lạnh (Bùi Bích Hà)
https://www.nguoi-viet.com/nhin-tu-little-saigon/nuoc-lanh/

Lời Yêu Thương Cho Dung (Trần Mộng Tú):
https://www.nguoi-viet.com/tuong-nho…uong-cho-dung/

Di Sản Quê Hương (Trùng Dương):
https://www.nguoi-viet.com/tuong-nho/di-san-que-huong/

Tâm Tình Của Bích Huyền
https://www.nguoi-viet.com/tuong-nho/tam-tinh-cua-bich-huyen/

Chị Dung đã “đi xa” mãi mãi rồi! (Phạm Anh Dũng)
https://www.nguoi-viet.com/tuong-nho/chi-dung-da-di-xa-mai-mai-roi/

********************

CHỊ DUNG – OLDER SISTER DUNG

My dear older sister’s name is Phạm Thị Dung, and her friends call her Phạm Dung or Phạm Dung – Lê Đình Điểu (combining her name with her husband’s). But I only like to refer to her as: “Chị Dung,” meaning “Older Sister Dung.”

She just passed away. I am shaken and just want to write down these thoughts.

We were initially 13 brothers and sisters and now without her, there are only three of us left, and nobody in our family can be compared to her. Since a child until today, I have always looked up to her as a great role model.

My sister Dung was not talkative and was stern. I am sure that all of us, brothers and sisters, including me, listened to her, although she was not our eldest sibling. As for me personally, I also “feared” her, because I used to be quizzed by her before I left for school. Probably thanks to her attention, I turned out to be an OK student. My sister Dung and Phạm Sĩ Vân, one of my brother (who passed away a long time ago) were admittedly worthy of my respect. The rest of us, either older or younger than me, and including myself, are more or less imperfect individuals.

Although she was stern, Dung was very nice and kind to everyone, ready to help anyone including strangers who met with unfortunate events. In this regard, she was exactly like our mother. Our mother had spent all her savings to cook porridge for the poor during the Ất Dậu Famine of 1945.

Dung had a passion for music. She enjoyed listening to music, especially the semi-classical kind. She loved playing the mandolin and graduated from the School of Popular Dance and Music as a vocalist. By default, she could have gone on to the National Institute of Music without an entrance exam. But our family was not well-to-do enough to afford both her general and musical educations.

So she attended and graduated from Trưng Vương High School in Saigon. She then received a scholarship to study in America.

Before finishing high school, she met her future husband Điểu, and they fell in love. When she left the country for the United States in 1961, he, under the pen name Y Dịch, wrote the poem entitled “Good Bye My Lover” that in 1992 I set to music with the name “It Hasn’t Rained Yet In July.”

There was also a pleasant memory from that time, as a reporter had taken a picture of my sister Dung while she rode her velosolex in Saigon, and that photograph appeared in the October 1961 issue of National Geographic. She did not tell us this, and I only knew about it decades later.

In 1965, she completed her Bachelor of Science degree in Nursing and passed the exam to earn her Registered Nurse certification. Going back to Vietnam, she worked for the Ministry of Health, taught nursing at School of Nursing, and English at the Vietnamese American Association. Although Điểu, her husband, was a high-ranking official in South Vietnam’s Ministry of Mass Mobilization and Open Arms, they were not quite well-to-do, because they also had to support their parents and siblings.

Dung was so kind that she never complained about anyone, including those who presumably were her friends but harmed her loved ones. She only sighed, and I never heard her criticized any other person.

But she was also strong. After the so-called “liberation” of South Vietnam in 1975, she lost her jobs and stayed home. She managed to raise her three children by trading at swap meet and cooking sweet rice. That was her toil while her husband went to “re-education camps.” She showed incredible perseverance in bringing her three small children along on nine attempts to escape the country. The poor mother and children were caught and detained several times, and they never succeeded!

After all those misfortunes came fortune. Her family finally went to France in 1983, after Điểu went back from “re-education camps.” Because Dung’s father-in-law was an officer of the French colonial army, the French government accepted the family’s application for refuge, even after he had passed away.

I sponsored her family as they migrate to America in 1985. Here, Điểu worked as a journalist for a Vietnamese newspaper, a low-paying, time-consuming job which also incurred the risk of being labeled wrongly as “communist.” They basically lived on Dung’s salary as a school nurse. They later managed to buy a house in Bellflower, a city situated between Orange County and Los Angeles. She took care of almost everything, including house chores and rounding up the kids, so her husband could perform the pro bono works.

Điểu suddenly succumbed to sickness and passed away in 1999, and Dung stayed single ever since, including a ten-year span when she lived alone in the old house full of memories. In recent years, some of her children moved back and her grandchildren often visited her, so she was less lonely.

About two and a half years ago, she was told by her doctor about her cancer that needed chemotherapy, radiation therapy and surgery. She went through these treatments smoothly. But in the past six months or so, the cancer came back, and this time there was no effective cure.

Three days ago, her daughter Y Sa informed me of the bad news. Even as I already knew that it was inevitable, I choked up and had to hang up the phone. Today, while thinking and writing these lines, I have realized that my sister was so “beautiful” as a person. I dare to believe that Dung has easily transcended to a high place, where Điểu has been waiting for the past 20 years.

My sister Dung has departed forever!

Phạm Anh Dũng
April 29, 2019

translated by Lê Đình Nhất Lang

Photo 1: Dung in the October 1961 issue of National Geographic

Photo 2: Điểu and Dung (taken by Trần Đại Lộc in an incidental moment in 1966)

PHÂN ƯU: NS CUNG TIẾN

Cung Tiến

PHÂN ƯU: NS CUNG TIẾN

Nhận được tin nhạc sĩ Cung Tiến (November 27, 1938 – May 10, 2022) qua đời tại Los Angeles, California, USA hưởng thọ 83 tuổi.

Xin được kính chia buồn với tang gia và cầu mong linh hồn anh Cung Thúc Tiến chóng về cõi Vĩnh Hằng.

Phạm Anh Dũng

MẸ RU CON (nhạc Phạm Anh Dũng)/TRONG VÒNG TAY MẸ (tranh Nguyễn Sơn)

TRONG VÒNG TAY MẸ (tranh Nguyễn Sơn)

“Tiếng ca mẹ hiền trên vùng đất ngoan

Lãng quên cuộc đời đầy những ưu phiền
Rồi lời hát ngát xanh màu thiên thu …”

Có một hôm, trong đời, tôi chợt nghĩ nhiều về Mẹ Tôi, người đã qua đời.
Tôi nghĩ, ai rồi cũng sẽ chết.
Tôi nghĩ, mai sau tôi có chết đi, thì cũng “về” với Mẹ mà thôi.
Và tôi viết bài Mẹ Ru Con để tặng Mẹ Tôi.
Ý tôi muốn nói: khi con người ta chết thì cũng sẽ trở về với tiếng hát lời ru, vòng tay thương yêu của mẹ.  

(Bản nhạc viết thử 4 đoạn nhạc khác hẳn nhau, tạm giải thích cho dễ hiểu là không có điệp khúc hay phiên khúc gì cả)

Mẹ Ru Con (nhạc và lời Phạm Anh Dũng) Ý Lan hát, Đồng Sơn hòa âm, Hoàng Khai Nhan làm video
Mẹ Ru Con (nhạc và lời Phạm Anh Dũng) Hoàng Quân hát, Lê Thanh Hương làm video

PHẬT GIÁO VIỆT NAM / Ngô Thị Quý Linh

(bìa trước)

PHẬT GIÁO VIỆT NAM
từ Khởi Thủy đến Tiền Bán Thế Kỷ Thứ 20
lược sử, chùa chiền và văn thơ

Product details

  • Publisher ‏ : ‎ Y Linh Publishing (November 15, 2021)
  • Language ‏ : ‎ Vietnamese
  • Hardcover ‏ : ‎ 560 pages
  • ISBN-10 ‏ : ‎ 0974613568
  • ISBN-13 ‏ : ‎ 978-0974613567
  • Item Weight ‏ : ‎ 3.35 pounds
  • Dimensions ‏ : ‎ 7 x 1.69 x 10 inches

PHẬT GIÁO VIỆT NAM @ amazon.com :
https://www.amazon.com/Ph%E1%BA%ADt-gi%C3%A1o-Vi%E1%BB%87t-Nam-kh%E1%BB%9Fi-thu%E1%BB%B7-Vietnamese/dp/0974613568/ref=sr_1_1?qid=1649429283&refinements=p_27%3AQuy+Linh+Thi+Ngo&s=books&sr=1-1

LIÊN LẠC: ylinhpublishing@gmail.comwww.ylinhpublishing.weebly.com

(bìa sau)

LỜI MỞ ĐẦU

Phật-giáo đã đến nước Việt từ hai nghìn năm trước và là một phần trong lịch sử nước Việt. Quyển sách này xin được viết cho những người cùng quan tâm đến lịch sử nước Việt biết thêm về một khía cạnh tín ngưỡng, văn học và mỹ thuật trong đời sống người Việt theo dòng lịch sử.

Thoạt tiên, đạo Phật đã đến với người Việt như một tín ngưỡng, tin  tưởng Phật có phép thần thông: Tứ-Pháp (là Pháp-vân, Pháp-vũ, Pháp-lôi, Pháp-điện), để phù trợ nhà nông trong việc cấy cày, làm ruộng, trồng lúa gạo, làm ra thức ăn nuôi sống người dân. Dần dà, đạo Phật đã trở nên một đạo sống, một nhân sinh quan của người Việt trong đời sống hằng ngày:

Tu nhân tích đức

Ăn hiền ở lành

Tích thiện phùng thiện, tích ác phùng ác

Dẫu xây chín cấp phù-đồ,

Không bằng làm phúc cứu cho một người.

Khuyên ai ăn ở cho lành,

Kiếp này chưa gặp để dành kiếp sau.

Những câu tục ngữ ca dao này biểu hiện cho luật nhân quả trong đạo Phật, nhắc nhở chúng ta rằng những việc làm thiện hay ác ở các kiếp trước và ở đời này là nhân cho các điều tốt hay xấu của kiếp sau.

Những truyện cổ tích Việt như Sự tích con muỗi nói lên cái vòng luân hồi đi từ kiếp này sang kiếp khác tùy theo cách ăn ở trên đời của mình, Cái cân thủy ngân nhắc nhở việc tu nhân tích đức, và nhiều truyện cổ tích khác đã nói lên nhân sinh quan làm lành lánh ác theo đạo lý nhân quả nhà Phật.

Tư tưởng về nghiệp quả, nhân duyên của đạo Phật được Nguyễn Du đem vào tác phẩm nổi tiếng Đoạn-trường tân-thanh (Truyện Kim Vân Kiều). Nàng Kiều trải qua mười lăm năm đoạn trường, trả hết nghiệp của mình mới được tái hợp về với gia đình. Kết thúc truyện, Nguyễn Du viết rằng:

“Đã mang lấy nghiệp vào thân,

Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa.

Thiện căn ở tại lòng ta,

Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài.”

Đạo lý Phật-giáo đã thấm nhuần sâu xa vào trong tâm hồn người Việt, trong mọi lãnh vực văn học, nghệ thuật, triết lý, nhân sinh. Mục đích khiêm nhường của tập sách này là ghi chép lại một số ảnh hưởng của đạo Phật trong xã hội Việt-Nam từ khi du nhập đến giữa thế kỷ thứ 20. Qua lịch sử, mỹ thuật và văn chương, chúng ta sẽ thấy cách dân tộc Việt quan niệm về các “vẻ mầu nhiệm” của đạo Phật. Sự biểu hiện của đạo Phật qua từng giai đoạn lịch sử cho thấy sự áp dụng thực tế của đạo Phật trong xã hội.

Vì giới hạn của tập sách, mong độc giả thông cảm cho tác giả chỉ có thể viết về “lược-sử” chứ không viết đến “lịch-sử” của đạo Phật ở Việt-Nam, chỉ tả sơ lược một số chùa chiền qua các thời đại và ghi lại một phần rất khiêm tốn trong văn thơ cửa thiền.

Về phần kiến trúc của các chùa, quyển Mỹ-thuật Cổ-truyền Việt-Nam của GS. Nguyễn-Khắc-Ngữ (Tủ-Sách Nghiên-Cứu Sử-Địa) đã thu thập rất nhiều dữ kiện. Trong thời gian đầu thập niên 1980, quyển sách này đã được GS. Ngữ cho đóng bằng tay từng cuốn một để bán cho những người thích nghiên cứu sử Việt. Lúc bấy giờ, người tỵ nạn Việt-Nam hãy còn ở rải rác khắp nơi, ai nấy vừa trải qua cơn mộng dữ và những tháng ngày hãi hùng của năm 1975, nhiều người còn đang lênh đênh trên biển Đông, người thì đang sống vất vưởng trong các trại tỵ nạn, cộng đồng Việt-Nam tại hải ngoại chưa thành hình. Hầu hết đều lo âu cho một tương lai bất định. Sách mới phát hành không có mấy người chú ý đến. Mặc dù sách không in bìa cứng hình màu như sách hiện nay, chúng tôi vẫn mua quyển sách Mỹ-thuật Cổ-truyền Việt-Nam lúc ấy để ủng hộ cho tấm lòng nhiệt thành của Giáo-sư đối với môn sử học và mỹ thuật Việt-Nam.

Các tác phẩm tìm hiểu về đất nước của tác giả Huỳnh-Minh đã cho tôi hiểu biết thêm những công nghiệp của tiền nhân trong các tỉnh miền Nam Việt-Nam cả 200 năm trước khi người Pháp đến. Cảm động thay khi tôi đọc lời “Trần Tình” của ông trong cuốn Gia-Định Xưa và Nay, mà cũng là tâm tình của tôi, một người hậu học.

“Từ lâu tôi vẫn theo đuổi với một hoài bão là phụng sự văn hóa dân-tộc. Đóng góp những gì cho quê hương, đó là con đường mà chúng tôi đã vạch.

Mỗi người ai ai cũng có lý tưởng riêng của mình, người thích cái này, người thích cái kia, ai thích cái gì thì làm theo cái nấy, miễn đừng phản bội lại quê hương dân-tộc là đủ.

Sở dĩ chúng tôi thích làm văn hóa, viết sách sưu khảo, tìm hiểu non sông gấm vóc, [là để] ghi lại các sự kiện lịch sử từng địa phương, làm sống lại công nghiệp của tiền nhân có những trang sử oai hùng làm vẻ vang cho dân-tộc.

Đem hết lương tâm để phụng sự với bao năm tháng trên bước đường dài, từ bao lâu nay vẫn âm thầm làm theo lý tưởng của mình, không nhờ sự tài trợ của một cơ quan văn hóa nào cả, chúng tôi cam chịu mọi sự bạc đãi phũ phàng, mà cứ lặng lẽ tiến hành trên đường đã vạch. Bao nhiêu tác phẩm là bấy nhiêu tâm huyết. Bao nhiêu chữ là bấy nhiêu tình. Tâm-huyết nhiệt thành phục vụ văn hóa, Đạo nghĩa, Tình nồng nàn yêu mến quê hương, chủng tộc.”

Gia-Định Xưa và Nay, Huỳnh-Minh

Để tìm hiểu ảnh hưởng của đạo Phật trong xã hội Việt-Nam vào thời vua Lê chúa Trịnh, một trong những quyển sách tôi tra cứu là quyển Tang Thương Ngẫu Lục của hai tác giả Phạm-Đình-Hổ và Nguyễn-Án. Đọc Tang Thương Ngẫu Lục, tôi mới biết là sách này được soạn vào đầu thế kỷ thứ 19, triều Gia-Long (1802-1819), và sách này chỉ được chép tay để truyền bá. Mãi đến năm 1896, triều Thành-Thái năm thứ tám, tiến-sĩ Đỗ-Văn-Tâm tự Gia-Xuyên, đương tại chức tổng-đốc Hải-Dương xem lại rồi quyên tiền khắc gỗ in ra, từ đấy sách được phổ biến rộng rãi hơn trong làng văn.

Tuy nhiên, cũng như các trước tác khác của tiền nhân trong nhiều thế kỷ trước, sách Tang Thương Ngẫu Lục được viết bằng chữ Hán cho nên vào đầu thế kỷ thứ 20, khi nền giáo dục và khoa cử Nho-học bị bãi bỏ thì những sách bằng chữ Hán càng lúc càng ít người đọc được. Thế hệ trí thức thập niên 1930 trở đi hiểu biết tiếng Pháp cũng như hiểu và dùng quốc-ngữ nhiều hơn. Bút sắt đã chiếm chỗ của bút lông. Các nhà Nho-học hay Hán-học chỉ còn là hình bóng mờ của quá khứ như Vũ Đình Liên đã tả trong bài thơ Ông Đồ.

“Ông Đồ vẫn ngồi đấy,

Qua đường không ai hay,

Lá vàng rơi trên giấy,

Ngoài trời mưa bụi bay.”

May mắn cho chúng ta, năm 1962, Sở Tu-thư Dịch-thuật của Bộ Quốc-gia Giáo-dục (Việt-Nam Cộng-Hòa), giáo-sư Nghiêm Toản (trưởng-ban Hán-văn Đại-học Văn-khoa), cụ Tú Đỗ Huyến (giáo-sư Hán-văn Trường Sư-phạm Sài-Gòn), và dịch giả Đạm Nguyên đã chú ý đến quyển Tang Thương Ngẫu Lục và cho dịch ra quốc-ngữ “để giúp ích cho mai hậu trong việc khảo cứu về chuyện cũ nước nhà”.

Ngày nay, sách đến tay chúng ta không phải bằng cách chép tay – chỉ được vài bản – hay khắc gỗ a – được độ dăm chục hay trăm bản. Với kỹ thuật tân tiến hiện đại, sách có thể được ấn hành đến cả triệu bản. Nhưng ngày nay biết còn bao  người đọc đến quyển Tang Thương Ngẫu Lục cũng như những sách vở khác đã được dịch ra quốc-ngữ trong kho tàng văn học nước nhà?

Tiến-sĩ Đỗ-Văn-Tâm đã trân quý một tác phẩm văn học nước nhà, mua bản sách, đính chính, quyên tiền khắc gỗ in, để cho tác phẩm Tang Thương Ngẫu Lục không bị mai một, công phu của hai tác giả Phạm-Đình-Hổ và Nguyễn-Án không bị uổng phí. Để tỏ tấm lòng biết ơn các vị tiền bối đã bỏ công lao giữ gìn kho tàng văn học nước nhà, tôi muốn theo bước chân của cụ Đỗ-Văn-Tâm, từ sách Tang Thương Ngẫu Lục và những sách vở xưa khác của tiền nhân, mạo muội thu góp những điển tích hay đẹp trong sách vở nước nhà liên quan đến đạo Phật mà viết ra quyển Phật-giáo Việt-Nam.

Trong sách Tang Thương Ngẫu Lục, bản dịch của dịch giả Đạm-Nguyên và cụ Tú Đỗ-Huyến, viết năm 1962 tại Sài-Gòn, có ghi chép rằng:

“Tam-An-Đình, Phụng-Dực, Bằng-Sô kiểm-lại; Ân-tứ Tiến-Sĩ khoa Canh-Thìn, Thự Tổng-Đốc Hải-An, Hậu-học Gia-Xuyên, Đỗ-Văn-Tâm, hiệu Ngọc-Hiên xem lại và khắc in.”

Sách này xin để kính dâng anh hồn cụ Gia-Xuyên Đỗ-Văn-Tâm và những bậc tiền bối hằng thiết tha giữ gìn kho tàng văn học Việt-Nam.

 – Cẩn khải

Ngô Thị Quý Linh

Mùa thu năm 2019

Viết Ngắn về Dạ Lan, người vừa qua đời  

Viết ngắn về Dạ Lan, người vừa qua đời  

Tôi quen Dạ Lan từ lâu qua những emails gửi qua lại về âm nhạc 
Và thường Dạ Lan trả lời email ngay, trong vòng 1 vài giờ là cùng 
Tạm gọi  Dạ Lan   là “fan” vì  Dạ Lan   thích nghe nhạc của mình 
(email kỷ niệm còn giữ dưới đây là về bài… Dạ Quỳnh Hương) 

Ngày xưa khi còn ở VN vẫn nghe  Dạ Lan phát thanh, nhiều người nghe, qua đài Quân Đội 
Chương trình tên là “Dạ Lan, tiếng nói của người em gái hậu phương”
(muốn nghe lại hay xem hình ảnh Dạ Lan chỉ cần google) 
Chắc nhiều người còn nhớ đó là phương tiện an ủi và nâng cao tinh thần binh sĩ có hiệu quả 
Dạ Lan có cho biết mình là Dạ Lan 2, đang ở Hoa Kỳ. Trước đó là Dạ Lan 1.
So sánh thì Dạ Lan 2 thời gian làm việc cho trương trình, tuy sau nhưng là gấp đôi Dạ Lan 1  

Chuyện tôi và  Dạ Lan chỉ có thỉnh thoảng gửi thư cho nhau chuyện trò về âm nhạc thôi
Vài hôm trước được tin Dạ Lan qua đời 
Tôi có thói quen mỗi khi có ai qua đời thì viết email cuối cùng cho họ 
Nếu không có trả lời thì đành xem như là… vậy 
Tôi viết cho email cho Dạ Lan hôm qua không có trả lời 

Sáng sớm ngủ dậy thấy buồn quá gửi Dạ Lan 1 bài hát tạm biệt
Mong Dạ Lan ngủ yên  nhé 
Sẽ nhớ Dạ Lan mãi 

Phạm Anh Dũng

*

Bài Ca Cuối Cùng (nhạc và lời Phạm Anh Dũng) Hương Giang hát, Sonar Production hòa âm, Max thực hiện b&w video:

———- Forwarded message ———
From: Lan Da <>
Date: Sun, Jul 15, 2012 at 7:58 AM
Subject: Re: Mời xem hoa quỳnh đang nở và nghe lại … Dạ Quỳnh Hương
To: Pha.m Anh Du~ng <>

           cam on anh Dung ,

Hoa quynh trang dang no ,dep qua anh Dung oi. !

Da quynh huong …dong nhac van tuyet voi.

       DL

CD Hội Hoa Đăng / Tiếng Hát KaLang

CD Hội Hoa Đăng / Tiếng Hát KaLang

với tác phẩm của các nhạc sĩ Văn Cao, Dương Thiệu Tước, Đoàn Chẩn-Từ Linh, Lê Trọng Nguyễn, Từ Công Phụng, Khánh Băng và Hồ Đăng Tín

hòa âm do các nhạc sĩ Hồ Đăng Tín và Bảo Phúc

Thu âm: VST studio
Ảnh: Cao Tri Studio
Dàn dựng: Bùi Thế Quang
Ấn hành: Trần Kiêm KaLăng

Với tiền định mang tên loài chim do Ông Nội đặt cho, chim Ca-Lăng Tần Già, thay vì hót “ngày đêm sáu thời kêu tiếng hòa nhã, như tụng niệm pháp âm” KaLang chỉ muốn làm một con chim bé nhỏ, cất tiếng hát vui với đời, rồi lại được bay bổng trong không gian bao la. Thế nên những bài hát này vẫn chỉ là những tiếng chim ríu rít một sáng mai bên khung cửa sổ, rồi… chim bay đi mà người cũng không hề hay biết…..

VIDEO VÀI BẢN NHẠC TRONG CD

“Chén ly bôi” trong Giòng Thời Gian (Minh Kỳ) Lệ Thu

VIẾT NGẮN ĐỂ NGHE NHẠC: “Chén ly bôi” trong Giòng Thời Gian (Minh Kỳ) Lệ Thu

Bôi là đồ sành đồ gốm chưa có nung và ly là chia ly

Nhạc phẩm Giòng Thời Gian có câu “Chiều nay nâng chén ly bôi”

Ở đây “chén ly bôi” là “chén rượu tiễn đưa”

Giòng Thời Gian (Minh Kỳ) Lệ Thu

Biệt Kinh Kỳ (Minh Kỳ) Lệ Thanh

VIẾT NGẮN ĐỂ NGHE NHẠC: Biệt Kinh Kỳ (Minh Kỳ) Lệ Thanh

Kinh Kỳ theo tự điển  thành đô, kinh đô
Biệt kinh kỳ là xa thành đô, xa đô thị
Lúc sáng tác, 1961, nhạc sĩ Minh Kỳ, sống ở miền Nam, là xa Sài Gòn
Biệt Kinh Kỳ của Minh Kỳ như vậy là xa Sài Gòn tuy trong bài không viết rõ.
Lúc Xa Sài Gòn hay Khi Xa Sài Gòn (giống bài hát của Lê Uyên Phương) thì rõ hơn.
Nhưng nếu một người ở miền Bắc, lúc đó thì biệt kinh kỳ sẽ là xa Hà Nội
Viết thêm: Minh Kỳ nổi tiếng hơn là ở các bài hát Nha Trang & Nhớ Nha Trang còn thêm Nha Trang Chiều Mưa. 1930 Ông sinh ra ở Nha Trang, 1975 ông chết ở trại học tập do lựu đạn nổ.
Về Nha Trang. Phạm Duy có Nha Trang Ngày Về cũng nhiều người hát hoài

Biệt Kinh Kỳ (Minh Kỳ) Lệ Thanh ca sĩ rất xa xưa hát:

Thơ Nhạc Toàn Phong-Nguyễn Xuân Vinh / Phạm Anh Dũng

Toàn Phong- Nguyễn Xuân Vinh

Bài này viết về hai bài thơ do người viết phổ nhạc vào thơ Toàn Phong-Nguyễn Xuân Vinh.
Nội dung cũng có kể, nhưng không có chi tiết gì vì không được biết, ngoại trừ links nghe xem video, các bài thơ phổ nhạc khác của ông và thêm các bài nhạc viết theo cảm tác về những sách ông viết.

NHẠC PHỔ THƠ NGUYỄN XUÂN VINH

Trước hết mời đọc một đoạn văn trong bài văn Tình Toán Học của giáo sư đại tá Nguyễn Xuân Vinh tức nhà văn Toàn Phong, tác giả Đời Phi Công:
“Tôi không nhớ là đã mê Toán Học, mà người ta đã gọi là Nữ Hoàng của các môn Khoa Học, từ bao giờ nhưng có thể gọi là đó là mối tình đầu của tôi, và để rồi trọn đời vương lụy, như trong một bài thơ của tôi đã được phổ nhạc:
Gặp em, vương mối tình đầu
Gặp em, chuốc lấy muộn sầu
Để rồi một kiếp thương nhau
Giận hờn trong trái tim đau…”

http://www.anhduong.net/LinhTinh/June06/TinhToanHoc-nxv.htm

Bài thơ của Toàn Phong-Nguyễn Xuân Vinh viết lên 4 câu trên đây tên là Nhớ Tiếc
“Mối tình đầu” mà hình như GS Toàn Phong-Nguyễn Xuân Vinh cho là Toán Học có lẽ không phải là …Toán Học.
Vì rất giản dị, Toán Học làm gì có chuyện “Chiều nào dìu em vào mộng”, “Người đi tóc thương mùi nhớ” hay “Em nay về tay người khác” …

Bài thơ được phổ nhạc cùng tên Nhớ Tiếc (thơ Toàn Phong-Nguyễn Xuân Vinh, nhạc Phạm Anh Dũng) Mỹ Dung hát, Quang Đạt hòa âm:
https://www.youtube.com/watch?v=taHu5bsY3bU

Một bài thơ phổ nhạc khác của Toàn Phong là Chân Dung (thơ Toàn Phong-Nguyễn Xuân Vinh, nhạc Phạm Anh Dũng) Quang Minh hát, Quang Đạt hòa âm, Hoàng Khai Nhan video:
https://www.youtube.com/watch?v=ftV0uByFslU

Một bài thơ của Nguyễn Xuân Vinh được nhiều người phổ nhạc nhất là Mắt Biếc Hồ Thu.
Võ Tá Hân phổ nhạc, Ngọc Quy hát: https://www.youtube.com/watch?v=19afOE_yqF8
Vũ Thư Nguyên phổ nhạc, Quỳnh Lan hát: https://www.youtube.com/watch?v=zfBlJJoBNA8
Nguyễn Vinh phổ nhạc, Đình Nguyễn hát: https://www.youtube.com/watch?v=1-eOL23rJvI

Và bài thơ phổ nhạc Thuở Nào Sao Lạc (ý thơ Nguyễn Xuân Vinh, nhạc Nguyễn Đức An) Clara Ngô hát, hòa âm Đức Duy, video Clara Ngô:
https://www.youtube.com/watch?v=f9GXv1vQ62s

NHẠC PHẨM VIẾT THEO CẢM TÁC VỚI CÁC SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN XUÂN VINH

Hai bài hát sau đây viết dựa theo cảm tác với các sách cùng tên của Toàn Phong:
Đời Phi Công (Lê Tín Hương) của Toàn Phong do Anh Dũng hát: https://www.youtube.com/watch?v=CX4Hz_WPR8E
Tìm Nhau Từ Thuở (Khê Kinh Kha) Diệu Hiền hát: https://www.youtube.com/watch?v=hjRFUca1HPg

NGUYỄN XUÂN VINH @ wikipedia: https://vi.wikipedia.org/wiki/Nguy%E1%BB%85n_Xu%C3%A2n_Vinh TẬP TƯỞNG NIỆM GIÁO SƯ/ TIẾN SĨ NGUYỄN XUÂN VINH (1930-2022) Ở WEBSITE CỎ THƠM:
https://cothommagazine.com/wp/tuong-niem-giao-su-nguyen-xuan-vinh-1930-2022/